An ninh môi trường phải bắt đầu từ phòng ngừa
An ninh môi trường là trạng thái môi trường an toàn, ổn định và bền vững, trong đó nguy cơ được nhận diện, dự báo, phòng ngừa, kiểm soát và ứng phó hiệu quả để không gây tổn hại đến con người, xã hội và lợi ích quốc gia. Đó là cách tiếp cận đặt trọng tâm vào việc ngăn rủi ro hình thành và lan rộng, thay vì chờ thiệt hại xảy ra rồi mới xử lý. Ngày 15/10, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới. Chỉ thị xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Thông điệp đáng chú ý không chỉ là siết xử phạt, mà là chuyển sang quản trị rủi ro từ sớm, từ xa, với trách nhiệm rõ hơn ở từng cấp và từng chủ thể.
Sự chuyển hướng này phản ánh quy mô ngày càng phức tạp của rủi ro môi trường: ô nhiễm, suy thoái tài nguyên, biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan và vi phạm pháp luật vẫn diễn biến phức tạp; tác động có thể vượt địa giới hành chính, lưu vực và biên giới. Khi nhiều nguy cơ tích tụ, cộng hưởng, hậu quả không còn dừng ở thiệt hại sinh thái mà có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, trật tự xã hội và năng lực chống chịu của cộng đồng. Vì vậy, an ninh môi trường không nên bị xem là phần việc riêng của ngành môi trường. Chỉ thị yêu cầu đưa nhiệm vụ này vào chương trình công tác, tăng phối hợp và đề cao trách nhiệm người đứng đầu. Nếu thiếu đánh giá rủi ro ngay từ lúc lập chính sách, quy hoạch hay dự án, cảnh báo đến sau thường đã quá muộn.
Kiểm soát nguồn thải để bảo vệ sức khỏe và sinh kế
Một mắt xích then chốt là kiểm soát chặt các dự án và nguồn thải có nguy cơ gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là khi có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sinh kế người dân. Đây là lựa chọn đúng: giám sát dàn đều có thể làm loãng nguồn lực, trong khi tập trung vào cơ sở và địa bàn rủi ro cao giúp phát hiện sớm nơi có khả năng gây hậu quả lớn. Chỉ thị cũng yêu cầu chuyển từ kiểm tra, xử lý đơn lẻ sang giám sát theo mức độ rủi ro. Chủ thể tạo ra nguy cơ phải chịu trách nhiệm tương xứng với mức độ rủi ro và hậu quả, bao gồm khắc phục môi trường và bồi thường thiệt hại khi có vi phạm. Cách tiếp cận này gắn phòng ngừa với trách nhiệm, thay vì để cộng đồng gánh phần lớn cái giá sau sự cố.
Hiệu quả của cảnh báo ô nhiễm sẽ được đo bằng việc người dân có được bảo vệ trước khi tác động trở nên rõ rệt hay không. Chỉ thị yêu cầu xử lý dứt điểm các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng, kéo dài và những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống; đồng thời ngăn nguy cơ bức xúc, tranh chấp, khiếu kiện biến thành điểm nóng. Điều này khiến dữ liệu giám sát và phản ánh từ cơ sở trở thành một phần của quản trị, không phải thủ tục phụ. Mặt trận Tổ quốc, doanh nghiệp và người dân được xác định có vai trò giám sát, phát hiện và tham gia ứng phó. Muốn cơ chế ấy có sức nặng, thông tin phải đến đúng nơi, được kiểm tra kịp thời và dẫn tới hành động cụ thể.
Cảnh báo phải nối liền với kịch bản ứng phó
Chỉ thị yêu cầu xây dựng bộ tiêu chí phân loại, cảnh báo rủi ro an ninh môi trường và kịch bản ứng phó sự cố theo từng cấp độ, đồng thời thường xuyên diễn tập những tình huống nghiêm trọng, phức tạp. Đây là phần biến nhận diện nguy cơ thành năng lực hành động: tiêu chí giúp xác định khi nào cần nâng mức cảnh báo, còn kịch bản làm rõ ai chỉ huy, lực lượng nào tham gia và thông tin nào phải được chia sẻ. Nếu hai khâu này tách rời, cảnh báo có thể chỉ dừng ở thông báo, còn ứng phó bắt đầu trong lúng túng. Mục tiêu được nêu rõ là không để sự cố lan rộng, kéo dài và trở thành khủng hoảng. Vì vậy, diễn tập không nên chỉ kiểm tra quy trình trên giấy; nó cần bộc lộ điểm nghẽn phối hợp trước khi sự cố thật xảy ra.
Chỉ thị còn định hướng xây dựng hệ thống giám sát, bản đồ rủi ro và cảnh báo sớm trên nền tảng số, liên thông dữ liệu môi trường với các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ dự báo và điều hành. Công nghệ chỉ có giá trị khi dữ liệu được cập nhật, chia sẻ và chuyển thành quyết định kịp thời; nếu thiếu phối hợp, bản đồ rủi ro khó ngăn được thiệt hại. Phạm vi quản trị cũng bao gồm suy thoái tài nguyên, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, thiên tai cực đoan, ô nhiễm hóa chất và nguy cơ từ công nghệ mới. Bởi vậy, ứng phó sự cố cần tính đến tác động liên ngành, liên vùng, thay vì chỉ giới hạn trong ranh giới của một cơ sở hay địa phương.
Thước đo sẽ là kết quả tại từng địa phương
Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo xây dựng chương trình hành động, các tỉnh ủy và thành ủy cụ thể hóa nhiệm vụ theo điều kiện địa phương; Đảng ủy Công an Trung ương theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện. Đây là bước tiếp theo cần thiết, nhưng chất lượng triển khai mới quyết định chỉ thị có thay đổi được cách quản trị hay không. Tiêu chí cảnh báo phải dùng được trong thực tế, trách nhiệm giữa các cơ quan phải rõ, còn việc xử lý vi phạm cần đi cùng khắc phục hậu quả. Vai trò nòng cốt của lực lượng Công an nhân dân trong tham mưu, tổ chức thực hiện cũng cần gắn với phối hợp liên ngành, thay vì tạo thêm những đầu mối rời rạc.
Chỉ thị đồng thời đặt quản trị an ninh môi trường trong mối liên hệ với khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và hợp tác quốc tế. Điều đó phù hợp với các rủi ro có thể vượt biên giới và đòi hỏi chia sẻ thông tin. Nhưng ưu tiên gần gũi nhất vẫn là ngăn nguồn thải gây hại, phát hiện nguy cơ trước khi sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng và xử lý dứt điểm ô nhiễm kéo dài. Thành công không nên được đánh giá chỉ bằng số lần kiểm tra hay kế hoạch ban hành; cần nhìn vào khả năng cảnh báo đúng lúc, huy động đúng lực lượng và hạn chế hậu quả. Kết nối chặt kiểm soát nguồn thải, dự báo và ứng phó là con đường thiết thực nhất để không cho sự cố môi trường leo thang thành khủng hoảng.






