Quốc gia biển mạnh không chỉ là giàu từ biển
Kinh tế biển Việt Nam trong tầm nhìn Nghị quyết 20-NQ/TW là chiến lược tổ chức lại toàn bộ không gian biển như một chỉnh thể phát triển, nơi kinh tế, xã hội, môi trường và quốc phòng đan xen, với mục tiêu đưa đất nước trở thành quốc gia biển mạnh, giàu từ biển và phát triển bền vững dựa trên quản trị và công nghệ hiện đại.
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, biển được đặt vào tổng thể không gian phát triển, sức mạnh quốc gia và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh, tức mục tiêu không dừng ở tăng trưởng GDP ven biển mà là chuyển trình độ quản trị biển lên mức hiện đại, dựa trên dữ liệu và công nghệ. Đây là bước rẽ tư duy quan trọng: từ nhìn biển như tập hợp ngành riêng lẻ sang coi đó là không gian sinh tồn, kết nối đất liền – hải đảo và trách nhiệm liên thế hệ.

Vì sao phải chuyển từ khai thác sang canh tác biển quy mô
Sau 8 năm thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, Việt Nam đã đầu tư cảng biển, khu kinh tế, đô thị ven biển, nghiên cứu khoa học và công nghệ biển, nhưng kết quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng một quốc gia có biển. Quản trị biển lạc hậu, thể chế chưa đồng bộ, quy hoạch không gian biển bất cập và ô nhiễm, suy giảm nguồn lợi thủy sản tiếp tục gia tăng. Nếu tiếp tục mô hình “ai quản lý gì thì làm nấy”, vừa khai thác vừa tự triệt tiêu nhau, kinh tế biển Việt Nam sẽ mắc kẹt trong vòng xoáy khai thác ngắn hạn, môi trường xuống cấp và sinh kế ven bờ bấp bênh.
Trên nền bối cảnh đó, Nghị quyết 20-NQ/TW lựa chọn nuôi trồng thủy sản biển và canh tác biển quy mô như một trụ cột mới. Nghị quyết đặt mục tiêu nuôi biển đạt tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân khoảng 8% mỗi năm và chiếm 15% giá trị toàn ngành thủy sản. Theo FAO, chỉ cần sử dụng 0,1% diện tích vùng đặc quyền kinh tế với năng suất 9.000–12.000 tấn/km²/năm, các quốc gia đã có thể tạo ra sản lượng cá biển khổng lồ. Đó là lý do canh tác biển được gọi là “cánh đồng cuối cùng”, khi quỹ đất nông nghiệp và nuôi trồng trên bờ gần chạm trần.

Từ nuôi ven bờ manh mún tới canh tác biển quy mô lớn
Thực tế, phần lớn nuôi trồng thủy sản biển hiện vẫn dồn ở vùng ven bờ, quy mô nhỏ, dễ tổn thương trước ô nhiễm, bão và xung đột không gian với du lịch, giao thông, cảng biển. Trong khi đó, nuôi biển xa bờ mới chỉ có vài chục cơ sở, cho thấy chúng ta mới chỉ đặt chân chứ chưa bước ra đại dương một cách có tổ chức. Tiếp tục nuôi ven bờ là chọn con đường tắc nghẽn: quỹ không gian hạn chế, môi trường quá tải, chất lượng sản phẩm khó đồng đều, khó đạt chuẩn xuất khẩu cao.
Đại dương đang dần trở thành không gian sản xuất mới. Chuyển từ “khai thác” sang “canh tác”, từ “nuôi ven bờ” sang “vươn ra đại dương” không phải khẩu hiệu, mà là yêu cầu sống còn để mở rộng dư địa tăng trưởng xanh và giảm áp lực khai thác tự nhiên. Canh tác biển quy mô cho phép tích hợp đa ngành – nuôi biển công nghiệp có thể kết hợp với du lịch, điện gió ngoài khơi, dầu khí, tạo ra chuỗi giá trị đa tầng trên cùng không gian biển. Nhưng điều kiện tiên quyết là phải “nuôi nước” – nghĩa là tổ chức sản xuất gắn với bảo vệ môi trường, chất lượng hệ sinh thái, chứ không chỉ “nuôi cá”.

Doanh nghiệp – từ người đi khai thác thành lực lượng kiến tạo năng lực quốc gia
Nếu Nghị quyết 20-NQ/TW mở tầm nhìn quốc gia biển mạnh, thì doanh nghiệp là người biến tầm nhìn thành năng lực thực tế. Petrovietnam sau hơn nửa thế kỷ phát triển đã trở thành nơi tích lũy những năng lực ngoài khơi mà gần như chưa có chủ thể nào khác sở hữu đầy đủ: khảo sát địa chất, thiết kế, chế tạo, xây lắp, vận hành công trình ngoài khơi, cùng đội ngũ chuyên gia trình độ cao và hệ sinh thái dịch vụ kỹ thuật. Đó là nền tảng hiếm có để bước sang kỷ nguyên canh tác biển, năng lượng mới, công nghiệp biển hiện đại.
Trong bối cảnh Nghị quyết 20 xác lập mục tiêu quốc gia biển mạnh, Petrovietnam không thể chỉ là tập đoàn dầu khí, mà được kỳ vọng tham gia sâu vào các chuỗi giá trị năng lượng mới và hệ sinh thái công nghệ ngoài khơi. Theo tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, thành công của nghị quyết phải đo bằng những chuyển biến thực chất trong phát triển kinh tế – xã hội, những kết quả cụ thể cho đất nước và Nhân dân. Điều đó đặt doanh nghiệp nhà nước, cùng khu vực tư nhân, vào vai trò lực lượng kiến tạo năng lực quốc gia trên biển: đầu tư hạ tầng ngoài khơi, logistics, công nghệ nuôi biển, dữ liệu và nguồn nhân lực.

Quản trị biển hiện đại và mốc 2030 trên đường tới 2045
Một quốc gia biển mạnh không thể được xây dựng trên nền quản lý manh mún theo từng ngành. Nghị quyết 20-NQ/TW thẳng thắn chỉ ra hệ quả của cách quản lý cũ: quy hoạch không gian biển bất cập, điều phối liên ngành kém hiệu quả, nguy cơ suy thoái tài nguyên và tổn thương hệ sinh thái. Chính vì vậy, quản trị biển hiện đại được đặt ở vị trí trung tâm, với yêu cầu xem biển như một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi hoạt động – từ nuôi trồng thủy sản biển, logistics đến du lịch, năng lượng – đều phải được cân đối trên cùng sức chịu tải của hệ sinh thái.
Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về biển, số hóa và chia sẻ toàn bộ dữ liệu tài nguyên, môi trường, hạ tầng và hoạt động biển trong hệ thống quản lý nhà nước. Đây là bước đệm thể chế và công nghệ để tiến tới mốc 2045: Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có quản trị biển hiện đại và công nghệ biển tiên tiến. Nếu các nhiệm vụ đến 2030 được thực thi bằng những dự án cụ thể, với doanh nghiệp là hạt nhân triển khai, thì canh tác biển quy mô và kinh tế biển bền vững hoàn toàn có thể trở thành động lực tăng trưởng mới cho cả nền kinh tế.







