Cung – cầu vật liệu xây dựng lệch pha: điểm nghẽn mới của hạ tầng
Khủng hoảng thiếu vật liệu xây dựng thường là tình trạng các mỏ đá, cát còn trữ lượng nhưng bị giới hạn bởi công suất khai thác được cấp phép, trong khi nhu cầu cho các dự án cao tốc, khu công nghiệp, đô thị và đầu tư công tăng vọt, khiến nguồn cung tại chỗ không theo kịp, giá tăng và tiến độ thi công bị đe dọa. Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư hạ tầng thì bài toán khai thác đá cát Việt Nam lại lộ rõ nhiều điểm nghẽn pháp lý và điều hành. Điều đáng nói, thiếu vật liệu xây dựng không diễn ra ở những địa phương nghèo tài nguyên mà ngay tại các vùng có tiềm năng khoáng sản lớn như Quảng Ngãi, Lào Cai, Đà Nẵng, Gia Lai. Đây không còn là câu chuyện kỹ thuật cấp phép, mà là bài kiểm tra năng lực thiết kế cơ chế đặc thù và ổn định thị trường khoáng sản trong một chu kỳ đầu tư công dồn dập.

Quảng Ngãi, Lào Cai: mỏ còn trữ lượng nhưng hết công suất được phép
Tại Quảng Ngãi, hàng chục chủ mỏ đá kiến nghị được điều chỉnh, nâng công suất khai thác hằng năm khi công suất được cấp đã hết từ nhiều tháng, trong khi trữ lượng theo giấy phép vẫn còn lớn. Chiều 28/9, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Phước Hiền chủ trì cuộc họp với các sở, ngành và chủ đầu tư để nghe kiến nghị, tháo gỡ khó khăn nguồn đá xây dựng, đặt thẳng vấn đề kéo dài thời hạn khai thác nhưng cho phép tăng công suất theo nhu cầu thị trường. Ở Lào Cai, nghịch lý còn gay gắt hơn: toàn tỉnh có 41 giấy phép khai thác đá làm vật liệu xây dựng thông thường, 33 mỏ đang hoạt động với công suất khoảng 2,69 triệu m³/năm, trong khi nhu cầu năm 2026 vượt 5,7 triệu m³ và giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần trên 28 triệu m³. Cụ thể, riêng nhu cầu cao tốc Nội Bài – Lào Cai và đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng đã lên tới hơn 2 triệu m³ đá xây dựng. Khoảng cách cung – cầu khổng lồ này buộc nhà thầu phải kéo vật liệu từ các tỉnh lân cận, thậm chí cách mỏ hơn 200 km, làm chi phí và thời gian vận chuyển đội lên.

Giá đá, cát leo thang và tác động đến nhà thầu, người dân
Khi công suất mỏ không tăng kịp, hệ quả dễ thấy nhất là giá vật liệu bốc lên trước khi bê tông kịp đổ xuống công trường. Tại Lào Cai, nhà thầu phản ánh giá đá trong dự toán chỉ khoảng 300.000 - 320.000 đồng/m³, nhưng thực tế đến chân công trình có thời điểm lên tới 600.000 - 700.000 đồng/m³. Đây là con số đủ để các chủ đầu tư lẫn nhà thầu phải tái tính toàn bộ bài toán tài chính. Việc phải thu gom đá từ nhiều tỉnh, vận chuyển với cự ly lớn không chỉ tăng chi phí nhiên liệu, mà còn kéo dài thời gian quay vòng phương tiện, làm giảm khả năng tập kết vật liệu và tổ chức thi công. Theo Sở Xây dựng Đà Nẵng, giá bán các loại đá xây dựng đang ở mức cao và biến động mạnh tùy vị trí mỏ, chi phí vận chuyển, tạo thêm áp lực chi phí đầu vào cho công trình. Tại Gia Lai, giá vật liệu xây dựng tăng cục bộ từ 5-20% ở một số địa bàn, trong đó cát và đá là hai mặt hàng tăng mạnh. Với nhà thầu, chênh lệch này nhanh chóng ăn mòn biên lợi nhuận; với người dân, nó sẽ phản ánh vào giá nhà ở, chi phí sử dụng hạ tầng – những khoản không thể né.

Cơ chế đặc thù: được thiết kế để gỡ khó, nhưng lại tạo thêm nút thắt?
Về lý thuyết, cơ chế đặc thù cho khai thác đá cát được kỳ vọng giúp công suất mỏ tăng nhanh, đáp ứng nhu cầu cao tốc và các dự án đầu tư công. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tháo gỡ khó khăn khi triển khai Luật Địa chất và khoáng sản, tạo cơ sở cho địa phương và doanh nghiệp tăng nguồn cung vật liệu cho công trình trọng điểm. Nhưng trên thực tế, việc nâng công suất vẫn vướng cả một ma trận điều kiện: trữ lượng, thiết kế khai thác, đất đai, môi trường, vật liệu nổ, an toàn lao động và các yêu cầu pháp lý khác. Từng mỏ như Lương Hà ở Lào Cai phải làm hồ sơ xin nâng công suất từ 200.000 lên 350.000 m³/năm, đầu tư thêm dây chuyền nghiền sàng nhưng vẫn chờ đợi thủ tục. Nhiều doanh nghiệp có phương tiện, nhân lực, còn trữ lượng, song bị trói bởi hạn mức khai thác năm, dẫn đến cảnh xe xếp hàng 2-3 ngày mới lấy được một chuyến đá. Cơ chế đặc thù nếu triển khai chậm, rườm rà thì từ giải pháp sẽ trở thành chính điểm nghẽn.
Địa phương phải chủ động ổn định thị trường khoáng sản, không chỉ đợi Trung ương
Trong bối cảnh thiếu vật liệu xây dựng đang trực tiếp đe dọa tiến độ dự án trọng điểm, không thể trông chờ hoàn toàn vào những điều chỉnh pháp luật cấp Trung ương. Quảng Ngãi đã giao Sở Công Thương khẩn trương xem xét, hỗ trợ và hướng dẫn các chủ mỏ thực hiện thủ tục nâng công suất, làm cơ sở trình cấp có thẩm quyền giải quyết kiến nghị, đồng thời khẳng định tỉnh sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp khai thác khoáng sản để bảo đảm nguồn vật liệu cho công trình trên địa bàn. Lào Cai được khuyến nghị phải rà soát từng mỏ, hỗ trợ các mỏ chưa đạt công suất thiết kế tăng sản lượng, phân loại mỏ tạm dừng để hướng dẫn khôi phục hoạt động nếu còn khả năng. Đà Nẵng và Gia Lai lại nhấn mạnh vào rút gọn thủ tục đưa mỏ cát, đá vào khai thác, đấu giá quyền khai thác công khai và đẩy nhanh cấp phép cho 16 mỏ đá cung ứng cho các dự án giao thông trọng điểm, nhằm ngăn nguy cơ đứt gãy nguồn vật liệu và kiềm chế đà tăng giá. Nếu các địa phương không coi ổn định thị trường khoáng sản là nhiệm vụ cấp bách ngang với giải phóng mặt bằng, thì mọi mục tiêu về cao tốc, sân bay, khu công nghiệp sẽ tiếp tục bị cản bởi chính nền tảng vật chất của chúng.






