Đường sắt tốc độ cao: không chỉ là công trình giao thông mà là bài toán làm chủ công nghệ
Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam là một hệ thống hạ tầng giao thông điện khí hóa có tốc độ thiết kế tới 350 km/h, đòi hỏi Việt Nam không chỉ xây dựng tuyến đường dài hơn 1.500 km mà còn phải làm chủ công nghệ đường sắt, từ tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế, sản xuất cấu kiện, vận hành đến bảo trì, để hình thành năng lực công nghiệp đường sắt tốc độ cao và giảm phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu. Nếu coi dự án chỉ là một tuyến vận tải, chúng ta sẽ tự giới hạn mình ở vai trò người mua công nghệ. Cách nhìn đó đã lỗi thời. Với quy mô chuẩn bị cho tuyến Bắc – Nam, đây phải được xem là “bài toán tổng hợp” về công nghiệp, khoa học công nghệ và nhân lực, có thể trở thành động lực hình thành một hệ sinh thái đường sắt hiện đại. Nói thẳng: hoặc Việt Nam bước lên nấc thang mới của làm chủ công nghệ đường sắt, hoặc sẽ tiếp tục trả giá dài hạn cho sự lệ thuộc, từ chi phí bảo trì đến khả năng mở rộng mạng lưới sau này.

Tiêu chuẩn kỹ thuật: nền móng để làm chủ toàn chuỗi công nghệ
Muốn làm chủ công nghệ đường sắt, Việt Nam phải bắt đầu từ thứ tưởng chừng khô khan nhất: tiêu chuẩn kỹ thuật. Danh mục tiêu chuẩn cho dự án đã nghiên cứu tới 605 tiêu chuẩn; trong đó 225 tiêu chuẩn đã được xây dựng hoặc chuyển đổi thành TCVN, 12 tiêu chuẩn đang chuyển đổi, 187 tiêu chuẩn đã được biên dịch sang tiếng Việt và tiếp tục chuyển đổi, còn 181 tiêu chuẩn chưa được dịch. Đây không phải là công việc giấy tờ, mà là bước định nghĩa “ngôn ngữ chung” cho toàn bộ chuỗi công nghệ. Tiêu chuẩn là cơ sở để khảo sát, thiết kế, thi công, sản xuất cấu kiện, kiểm định, nghiệm thu, vận hành và bảo trì. Khi yêu cầu kỹ thuật được xác lập rõ ràng, Việt Nam có thể lựa chọn giải pháp trên cơ sở hiệu quả và khả năng làm chủ, thay vì bị trói vào một gói công nghệ khép kín. Trọng tâm là từng bước làm chủ công nghệ xây dựng hạ tầng đường sắt tốc độ cao, từ khảo sát, thiết kế, thi công đến sản xuất cấu kiện, phù hợp với điều kiện địa chất, khí hậu và năng lực công nghiệp trong nước, đồng thời hình thành năng lực tự xây dựng, bảo trì, sửa chữa công trình đường sắt.

Từ ray, tà vẹt đến tổ hợp công nghiệp: nội địa hóa cấu kiện và chuyển giao công nghệ lõi
Làm chủ công nghệ đường sắt không thể dừng ở khâu lắp đặt mà phải đi vào vật liệu, cấu kiện và dây chuyền sản xuất. Các nhiệm vụ nghiên cứu đã được đặt hàng để làm chủ công nghệ sản xuất ray, phụ kiện, bộ ghi cho đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao, cũng như kết cấu đường ray không đá ba lát và tà vẹt bê tông dự ứng lực. Mục tiêu là lắp ráp trong nước và từng bước nội địa hóa phương tiện đối với đường sắt quốc gia và đường sắt đô thị, tiến tới làm chủ toàn bộ công tác vận hành, bảo trì, đồng thời từng bước sản xuất một số linh kiện, phụ tùng thay thế cho đường sắt tốc độ cao. Tổ hợp công nghiệp đường sắt trên diện tích 250 ha với khoảng 25 phân khu chức năng được định hướng là nơi tiếp nhận chuyển giao công nghệ lõi, đầu tư máy móc, thiết bị và sản xuất đầu máy, toa xe cho đường sắt quốc gia có tốc độ khai thác dưới 200 km/h; đồng thời mua thiết kế và tổ chức sản xuất toa xe EMU cho đường sắt đô thị. Nhiệm vụ này gắn với yêu cầu huy động nguồn lực, từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao, làm chủ và nội địa hóa cấu kiện đường sắt trong lĩnh vực đường sắt tốc độ cao và đường sắt điện khí hóa.
Doanh nghiệp công nghệ số nhập cuộc: 5G Rail và hệ thống điều hành như hai trụ cột lõi
Một hệ thống đường sắt tốc độ cao hiện đại không chỉ nằm ở ray và đoàn tàu, mà còn ở lớp công nghệ số điều khiển phía sau. Hai nhiệm vụ công nghệ chiến lược đã được đề xuất bởi Viettel và VNPT, hướng tới làm chủ công nghệ lõi, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt tại Việt Nam. Viettel tập trung nghiên cứu, thiết kế và phát triển mạng thông tin 5G chuyên dụng cho đường sắt tốc độ cao – 5G Rail – gồm mạng lõi và các trạm gốc, xây dựng theo kiến trúc FRMCS, hoạt động trên băng tần 1.900 – 1.910 MHz, đáp ứng truyền thông tin ổn định khi thiết bị đầu cuối di chuyển tới 350 km/h và ưu tiên các dịch vụ thiết yếu. VNPT đề xuất nghiên cứu, phát triển hệ thống liên khóa máy tính (Computer-Based Interlocking – CBI) phục vụ điều khiển chạy tàu đường sắt đô thị. Đây là hai mảnh ghép quan trọng để Việt Nam không phải phụ thuộc vào hệ thống thông tin và điều khiển nhập khẩu, mà từng bước làm chủ công nghệ lõi điều hành mạng lưới đường sắt.

Hệ sinh thái công nghiệp đường sắt: doanh nghiệp nội địa là trung tâm và mục tiêu dài hạn
Không có doanh nghiệp, mọi chiến lược làm chủ công nghệ đường sắt sẽ chỉ nằm trên giấy. Doanh nghiệp được xác định là trung tâm nội địa hóa công nghệ. Trước nhiệm vụ đặc biệt quan trọng này, nhiều đơn vị nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp và hội khoa học kỹ thuật đã được huy động; các đơn vị quốc phòng như Viettel, Viện Công nghệ thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, cùng các doanh nghiệp tư nhân như Hòa Phát, THACO… đều sẵn sàng tham gia. Các đề xuất của Viettel và VNPT không chỉ giải quyết bài toán kỹ thuật trước mắt mà còn hướng tới nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt. Giá trị lớn hơn là sau khi dự án hoàn thành, Việt Nam có thêm lực lượng kỹ sư và chuyên gia đủ năng lực; có doanh nghiệp sản xuất được vật liệu, cấu kiện, thiết bị; có hệ thống tiêu chuẩn và phòng thí nghiệm; có năng lực thiết kế, thi công, vận hành và bảo trì; có nền tảng dữ liệu và công nghệ số phục vụ các tuyến đường sắt tiếp theo. Nếu bỏ lỡ cơ hội này, chúng ta sẽ mất nhiều thập kỷ để xây dựng lại từ đầu.






