Khuyến công phía Bắc đang chuyển vai: từ trợ cấp sang tạo năng lực
Khuyến công phía Bắc là tổng thể các chính sách và chương trình hỗ trợ của Nhà nước dành cho doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn trong khu vực, nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, phát triển thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh theo định hướng phát triển bền vững, thay vì chỉ hỗ trợ rời rạc từng hạng mục nhỏ lẻ. Khuyến công các tỉnh, thành phố phía Bắc đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về cách thức hỗ trợ, theo hướng tập trung nguồn lực, nâng cao năng lực sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp nông thôn phát triển bền vững. Định hướng này được nhấn mạnh tại Hội nghị Khuyến công phía Bắc lần thứ XX do Cục Công nghiệp phối hợp với Sở Công Thương Hải Phòng tổ chức chiều 1/10/2026. Điều đó cho thấy cuộc “đổi vai” đã được đặt lên bàn ở cấp điều phối vùng, chứ không còn là ý tưởng rời rạc.

Vì sao phải bỏ cách hỗ trợ đơn lẻ: những con số biết nói
Năm 2025, tổng kinh phí khuyến công phía Bắc thực hiện đạt 87,9 tỷ đồng, tương đương 85% kế hoạch năm; nguồn lực này giúp gần 200 cơ sở ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, gần 1.000 gian hàng tham gia hội chợ và 34 sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu được vinh danh cấp quốc gia. Năm 2026, tổng kinh phí phê duyệt hơn 110 tỷ đồng, gồm 17,6 tỷ từ nguồn quốc gia và 93,1 tỷ từ địa phương, nhưng đến hết tháng 9 mới giải ngân được 33,1 tỷ đồng, tức khoảng 30% kế hoạch. Cục trưởng Cục Công nghiệp Trần Việt Hòa thẳng thắn: mỗi đồng ngân sách khuyến công phải đóng vai trò vốn mồi, dẫn dắt vốn đối ứng và nguồn lực xã hội, chứ không thể dừng ở việc “mua hộ” một vài chiếc máy lẻ. Nếu chỉ chạy theo số lượng đề án, ngân sách sẽ bị pha loãng, hiệu ứng lan tỏa yếu và doanh nghiệp khó bứt lên.

Tư duy mới: lấy doanh nghiệp làm trung tâm, công nghệ làm động lực
Điểm mấu chốt của khuyến công phía Bắc giai đoạn mới là chuyển trọng tâm từ hỗ trợ đầu vào sang nâng năng lực cạnh tranh dài hạn. Các chương trình và đề án ngày càng tập trung hơn vào ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, xúc tiến thương mại, đào tạo quản trị, sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Theo Cục Công nghiệp, ngân sách khuyến công phải phát huy vai trò “vốn mồi”, trong đó lấy công nghệ và năng suất làm động lực cốt lõi, lấy doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn làm chủ thể trung tâm. Cách tiếp cận này buộc các đề án phải đi xa hơn một dây chuyền hay một chiếc máy, tiến tới chuẩn hóa quy trình, nâng chất lượng, tăng giá trị gia tăng, mở rộng thị trường – tức là gắn khuyến công với chiến lược kinh doanh dài hạn, thay vì giải quyết khó khăn tức thời.
Điểm nghẽn hiện tại: phân tán, thiếu liên kết vùng và chậm tổ chức
Dù có nhiều kết quả, bức tranh khuyến công phía Bắc vẫn tồn tại những mảng tối khó bỏ qua. Chất lượng đề án không đồng đều; nội dung hỗ trợ còn phân tán, quy mô nhỏ, chủ yếu xoay quanh máy móc đơn lẻ, trong khi các đề án có tính liên kết vùng, liên tỉnh và liên kết chuỗi từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến thị trường vẫn còn hạn chế, chưa tạo được năng lực sản xuất và hiệu ứng lan tỏa đủ lớn. Việc sắp xếp đơn vị hành chính, giải thể hoặc chuyển giao trung tâm khuyến công khiến đầu mối và nhân lực bị xáo trộn, làm chậm tiến độ triển khai. Cùng với đó là các vướng mắc về giao kinh phí, tạm ứng, thanh toán, quyết toán khi cơ quan quản lý và đơn vị thực hiện không cùng hệ thống dự toán. Nếu không tháo nút này, những mục tiêu đẹp về phát triển bền vững rất dễ bị “kẹt” trên giấy.

Từ giải ngân sang kết quả sau hỗ trợ: chuẩn mới cho phát triển bền vững
Năm 2026 là năm đầu của Chương trình khuyến công giai đoạn 2026–2030, cũng là thời điểm buộc phải đổi cách đánh giá: từ phân bổ nguồn lực sang tạo năng lực tăng trưởng. Cục Công nghiệp đang hoàn thiện quy định về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia, đồng thời phối hợp với Bộ Tài chính rà soát cơ chế tài chính để giảm khâu trung gian và tăng tính chủ động, gắn trách nhiệm với hiệu quả ngân sách. Về phía địa phương, yêu cầu đặt ra là tổ chức lại bộ máy, số hóa quy trình, chuẩn hóa dữ liệu trên hệ thống thông tin quản lý khuyến công và kết nối với dữ liệu sản xuất công nghiệp. Quan trọng hơn, hiệu quả phải được đo bằng công suất, năng suất, doanh thu, việc làm, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng và khả năng huy động thêm nguồn lực xã hội sau hỗ trợ. Nếu làm được, khuyến công phía Bắc mới thực sự trở thành động lực bền vững cho công nghiệp nông thôn và phát triển vùng.






