Từ biểu tượng ngoại giao đến trục hợp tác khoa học – công nghệ mới
Hợp tác Việt Nam Hàn Quốc trong khoa học công nghệ là tổng hợp các hoạt động giữa cơ quan nhà nước, trường đại học và cộng đồng hai nước nhằm chia sẻ tri thức, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực quản lý, đồng thời giải quyết những vấn đề rất cụ thể của xã hội như quản lý tài chính công, đào tạo nhân lực chất lượng cao và bảo tồn tiếng Việt cho thế hệ trẻ trong gia đình đa văn hóa. Những hoạt động này không chỉ là ngoại giao hình thức mà đang tạo ra các trục hợp tác mới gắn chặt với nhu cầu phát triển của Việt Nam. Điều đáng nói là khoa học công nghệ không được nhìn như lĩnh vực khô khan, mà như công cụ để củng cố bản sắc, cải thiện quản trị và thiết kế các chính sách công hiện đại.
Khi Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam chủ động sang Hàn Quốc để xúc tiến hợp tác, trọng tâm không phải vài bản ghi nhớ chung chung, mà là những sáng kiến có địa chỉ rõ ràng: ứng dụng học tiếng Việt để bảo tồn ngôn ngữ trong cộng đồng người Việt, trao đổi kinh nghiệm quản lý tài chính công, kết nối đại học Hàn Quốc với các tỉnh như Hưng Yên trong đào tạo và nghiên cứu. Cách tiếp cận này cho thấy nếu không gắn khoa học công nghệ với các bài toán đời sống và quản trị, hợp tác song phương sẽ khó đi vào chiều sâu.
| Trục hợp tác | Bên dẫn dắt | Mục tiêu chính |
|---|---|---|
| Khoa học công nghệ & đổi mới | Bộ KH&CN Việt Nam, các viện trường | Giải bài toán xã hội, chuyển đổi số, bảo tồn ngôn ngữ |
| Quản lý tài chính công | Bộ Kế hoạch và Ngân sách Hàn Quốc | Chia sẻ kinh nghiệm tài khóa, cải cách ngân sách |
| Đào tạo nhân lực địa phương | ĐH Quốc gia Seoul & tỉnh Hưng Yên | Phát triển nhân lực chất lượng cao, gắn với nhu cầu tỉnh |
Ứng dụng học tiếng Việt: công nghệ bước vào không gian gia đình
Điểm mới đáng chú ý nhất của hợp tác Việt Nam Hàn Quốc hiện nay là việc đưa công nghệ giáo dục vào chính các gia đình đa văn hóa. Trong chuyến công tác tại Hàn Quốc nhằm thúc đẩy hợp tác khoa học công nghệ song phương, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đã chứng kiến lễ trao tặng ứng dụng học tiếng Việt do Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông phát triển cho Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc. Đây không phải món quà tượng trưng: nó nhắm trực diện tới hơn 100.000 gia đình đa văn hóa Việt – Hàn, nơi thế hệ trẻ sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc đối mặt nguy cơ xa dần ngôn ngữ và cội nguồn Việt Nam.
Ứng dụng học tiếng Việt, nếu được triển khai nghiêm túc, có thể biến việc giữ tiếng mẹ đẻ từ nghĩa vụ thành trải nghiệm linh hoạt và hấp dẫn. Việc ứng dụng công nghệ số trong việc hỗ trợ học tiếng Việt đại diện cho cách tiếp cận mới trong bảo tồn tiếng Việt trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài, phù hợp với xu thế chuyển đổi số và thói quen tiếp cận thông tin của thế hệ trẻ. Đại sứ quán dự kiến phối hợp với các hội đoàn và cơ sở giáo dục tại Hàn Quốc để phổ biến ứng dụng tới những gia đình có nhu cầu, đồng thời thu thập phản hồi người dùng để cải thiện nội dung và tính năng, hướng tới một công cụ học tiếng Việt thực tế, dễ tiếp cận và phù hợp hơn với trẻ em trong môi trường đa văn hóa.
Ý nghĩa chính trị ở đây khá rõ: Nhà nước đưa khoa học công nghệ ra khỏi phạm vi phòng thí nghiệm, đặt vào không gian riêng tư của từng gia đình, coi bảo tồn tiếng Việt là nhiệm vụ gắn với ngoại giao, khoa học giáo dục và cộng đồng. Nếu ứng dụng được nâng cấp thành nền tảng nội dung phong phú về lịch sử, văn hóa, địa lý Việt Nam như định hướng, nó có thể trở thành chiếc cầu nối mềm mại nhưng bền vững giữa thế hệ trẻ Việt – Hàn với bản sắc Việt.
Quản lý tài chính công: chia sẻ kinh nghiệm để tránh lặp lại đường vòng
Song song với câu chuyện ngôn ngữ, hợp tác Việt Nam Hàn Quốc trong lĩnh vực quản lý tài chính công lại cho thấy một cách tiếp cận khác: học kinh nghiệm để tiết kiệm đường vòng cải cách. Bộ Kế hoạch và Ngân sách Hàn Quốc cho biết cơ quan này đã giới thiệu các chính sách quản lý tài chính công của Hàn Quốc cho một đoàn đại biểu gồm các quan chức cấp cao của Chính phủ Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi dẫn đầu. Điểm đáng chú ý là chuyến thăm diễn ra theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới, trong bối cảnh Việt Nam đang muốn học hỏi kinh nghiệm từ các chính sách tài khóa và cải cách của Hàn Quốc.
Việc Việt Nam chủ động trao đổi sâu với Hàn Quốc về quản lý tài chính công cho thấy rõ áp lực nâng cấp khung tài khóa trong bối cảnh nhu cầu đầu tư hạ tầng, chuyển đổi số, an sinh xã hội đang gia tăng. Ở cấp độ chính sách, nếu chỉ nói chung chung về hợp tác khoa học công nghệ mà không chạm tới vấn đề ngân sách, mọi tham vọng đổi mới sẽ thiếu nền tài chính vững. Bộ Kế hoạch và Ngân sách Hàn Quốc cho biết sẽ tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý ngân sách và chiến lược tương lai với các đối tác trọng yếu, trong đó có Việt Nam, đồng thời nỗ lực xác định các dự án hợp tác cụ thể. Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam là: liệu chúng ta chỉ dừng ở học mô hình, hay dám cải cách thể chế để áp dụng thực sự?
| Khía cạnh tài chính công | Kỳ vọng từ phía Việt Nam | Vai trò phía Hàn Quốc |
|---|---|---|
| Quản lý ngân sách | Nâng cao minh bạch, hiệu quả chi tiêu | Chia sẻ quy trình, công cụ quản lý |
| Chiến lược tài khóa dài hạn | Giảm rủi ro nợ, đảm bảo dư địa chính sách | Giới thiệu cách tiếp cận và kinh nghiệm cải cách |
| Dự án hợp tác cụ thể | Gắn tài chính với chuyển đổi số, hạ tầng | Đề xuất chương trình hỗ trợ, tư vấn kỹ thuật |
Hưng Yên bắt tay đại học Hàn Quốc: hợp tác phải gắn với nhu cầu địa phương
Nếu cấp trung ương đang xây dựng khung hợp tác, thì cấp địa phương như Hưng Yên lại cho thấy cách biến hợp tác Việt Nam Hàn Quốc thành hành động cụ thể. Ngày 30/9, đoàn công tác tỉnh Hưng Yên do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Nghiêm dẫn đầu đã làm việc với Đại học Quốc gia Seoul, trao đổi cơ hội hợp tác trong đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao tri thức. Tỉnh đề xuất hợp tác trong trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin, kỹ thuật, y sinh, quản trị công và khoa học xã hội, đồng thời mong muốn có các chương trình học bổng, trao đổi giảng viên, khóa bồi dưỡng về quản trị công, chuyển đổi số, quy hoạch đô thị và phát triển bền vững.
Điểm đáng giá ở Hưng Yên là cách tỉnh đặt hàng rất cụ thể: đề nghị Đại học Quốc gia Seoul tư vấn xây dựng chiến lược phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; hình thành các chương trình và trung tâm nghiên cứu ứng dụng gắn với nhu cầu thực tiễn địa phương. Trong chương trình công tác, đoàn cũng khảo sát mô hình bệnh viện Severance thuộc hệ thống Y tế Đại học Yonsei, bệnh viện dưỡng lão Gangnam-gi Haengbok và doanh nghiệp Meerecompany phát triển robot phẫu thuật nội soi ổ bụng, nhằm tìm kiếm khả năng hợp tác trong đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và các giải pháp y tế hiện đại. Với phương châm “chủ động, tích cực, thực chất và hiệu quả”, Hưng Yên hướng tới chuyển các hoạt động xúc tiến, kết nối thành những chương trình hợp tác có địa chỉ, đầu mối và lộ trình triển khai cụ thể.
Thông điệp ở đây khá rõ: nếu hợp tác khoa học công nghệ chỉ tồn tại trên bàn hội nghị tại Hà Nội hay Seoul, nó sẽ khó chạm tới đời sống người dân. Khi một tỉnh như Hưng Yên gắn hợp tác với việc đào tạo bác sĩ, chuyển giao công nghệ robot phẫu thuật, xây dựng chiến lược khoa học – công nghệ cấp tỉnh, thì hợp tác Việt Nam Hàn Quốc mới thực sự đi vào “phần cứng” phát triển của địa phương.

Kết luận: Khoa học công nghệ, tài chính công và bản sắc ngôn ngữ gặp nhau ở điểm nào?
Nhìn xuyên suốt các sáng kiến hiện nay, có thể thấy hợp tác Việt Nam Hàn Quốc đang dịch chuyển từ mô hình “đa lĩnh vực nhưng rời rạc” sang trục gắn kết giữa khoa học công nghệ, quản lý tài chính công và bảo tồn bản sắc văn hóa – ngôn ngữ. Ở cấp vĩ mô, Việt Nam tìm học kinh nghiệm tài khóa của Hàn Quốc để xây nền tài chính cho tham vọng đổi mới. Ở cấp cộng đồng, ứng dụng học tiếng Việt là minh chứng cho việc coi công nghệ như một phần của chính sách bảo tồn ngôn ngữ và bản sắc. Ở cấp địa phương, Hưng Yên đẩy mạnh kết nối với đại học và bệnh viện Hàn Quốc để đào tạo nhân lực và tiếp nhận công nghệ phục vụ trực tiếp nhu cầu tỉnh.
Điều Việt Nam cần lúc này không phải thêm các khẩu hiệu về khoa học công nghệ, mà là một chiến lược hợp tác rõ ràng: gắn hợp tác song phương với các bài toán cụ thể của từng bộ, từng tỉnh, từng cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Khi một ứng dụng học tiếng Việt có thể đồng thời là sản phẩm khoa học, công cụ ngoại giao cộng đồng và cầu nối văn hóa; khi một chương trình chia sẻ quản lý tài chính công gắn thẳng với cải cách ngân sách trong nước; khi một thỏa thuận hợp tác đại học được chuyển hóa thành học bổng, lớp đào tạo và phòng thí nghiệm cụ thể – lúc đó, hợp tác Việt Nam Hàn Quốc trong khoa học công nghệ mới thực sự trở thành động lực phát triển chứ không chỉ là câu chuyện ngoại giao.







