Khám phá sở thích, cùng nhau

Deal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Khám phá sở thích, cùng nhauDeal thật, đánh giá chân thực và câu chuyện mua sắm từ những người cùng sở thích với bạn — mỗi ngày trên Sammfy.

Từ khai thác thô sơ đến chuỗi giá trị cao: kinh tế biển Việt Nam phải đổi cách nghĩ

Từ khai thác thô sơ đến chuỗi giá trị cao: kinh tế biển Việt Nam phải đổi cách nghĩ
Sở thích|Đông Nam Á

Kinh tế biển Việt Nam: già tài nguyên, nghèo giá trị

Kinh tế biển Việt Nam là tổng thể các hoạt động khai thác, nuôi trồng, công nghiệp, dịch vụ và du lịch diễn ra trong không gian biển, ven biển và hải đảo, tạo ra giá trị kinh tế, sinh kế và sức mạnh quốc gia nhưng hiện vẫn chủ yếu dựa vào khai thác thô và dịch vụ giá trị thấp, chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên và vị thế địa chiến lược. Trọng tâm của vấn đề không nằm ở việc chúng ta có bao nhiêu cá, bao nhiêu km bờ biển, mà ở chỗ giá trị gia tăng đang bị “rơi rụng” trên từng mét cầu cảng, từng vùng nuôi thiếu quy hoạch và từng chuyến hàng xuất đi dưới dạng nguyên liệu thô. Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển cùng hàng nghìn đảo, nhưng kinh tế biển Việt Nam vẫn bị kìm chân bởi hạ tầng cảng yếu, dịch vụ hậu cần rời rạc và tư duy phát triển thiên về khai thác hơn là kiến tạo chuỗi giá trị.

Từ khai thác thô sơ đến chuỗi giá trị cao: kinh tế biển Việt Nam phải đổi cách nghĩ

Từ cảng cá Tam Quan đến những “nút thắt” chuỗi giá trị biển

Câu chuyện ở cảng cá Tam Quan là lát cắt điển hình cho chuỗi giá trị biển bị đứt đoạn. Mỗi chuyến biển, tàu của ngư dân phải chi cho khoảng 6 tấn dầu, hơn 1.300 cây đá lạnh, tiền thuê bạn tàu 7 triệu đồng/người/tháng, tổng chi phí lên tới 300–350 triệu đồng, nhưng nhiều chuyến vẫn thất thu dù biển được mùa. Khi tàu nhìn thấy bờ, khó khăn lại tiếp tục: luồng vào cảng hẹp, bồi lấp, phải thuê lai dắt, chi phí tăng thêm. Sản lượng cá ngừ đại dương ở Hoài Nhơn Bắc đạt khoảng 7.566 tấn/năm, chiếm hơn 42% sản lượng cả nước, nhưng phần lớn giá trị gia tăng nằm ở khâu bảo quản, chế biến sâu, phân phối và dịch vụ sau đánh bắt – những khâu lại diễn ra ở nơi khác. Từ thực tế “cá lớn, giá rẻ”, có thể thấy kinh tế biển Việt Nam đang mắc kẹt ở đáy chuỗi giá trị biển: bán nguyên liệu, mua dịch vụ, chịu rủi ro.

KhâuThực trạngHệ quả giá trị
Khai thácSản lượng lớn, chi phí cao, rủi ro thời tiếtBiên lợi nhuận mỏng, thu nhập ngư dân bấp bênh
Hậu cần cảngCảng chật hẹp, luồng bồi lấp, thiếu kho lạnhGiá bán thấp, thất thoát sản lượng và chất lượng
Chế biếnChế biến sâu chủ yếu ở nơi khácĐịa phương mất cơ hội việc làm và giá trị gia tăng
Phân phốiPhụ thuộc thương lái, ít thương hiệuKhông làm chủ giá, khó xây dựng hình ảnh sản phẩm biển

Nghị quyết 20-NQ/TW: từ kinh tế biển sang quốc gia biển mạnh

Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã đặt ra một bước ngoặt: chuyển từ tư duy “phát triển kinh tế biển” sang “xây dựng quốc gia biển mạnh” với không gian kinh tế biển đa tầng, đa giá trị. Trong mô hình này, tầng 1 là khai thác và nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, chuyển từ khai thác truyền thống sang nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ sinh học, lồng HDPE, IoT và quản lý chuỗi giá trị. Tầng 2 là công nghiệp biển và năng lượng tái tạo biển, từ điện gió ngoài khơi đến điện mặt trời, điện sóng. Tầng 3, 4, 5 mở rộng sang logistics, dịch vụ hàng hải, du lịch, đô thị biển và không gian sáng tạo. Như một câu nói có thể trích dẫn: “Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về ‘Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh’ đánh dấu sự chuyển biến mang tính bước ngoặt”. Vấn đề là làm sao biến tầm nhìn này thành hạ tầng, thể chế và mô hình kinh doanh cụ thể.

Từ khai thác thô sơ đến chuỗi giá trị cao: kinh tế biển Việt Nam phải đổi cách nghĩ

Doanh nghiệp Việt trong cuộc chơi chuỗi giá trị biển

Nếu không có doanh nghiệp mạnh, kinh tế biển Việt Nam sẽ mãi chỉ là bức tranh ngư dân chịu sóng gió còn giá trị nằm trong tay người khác. Nghị quyết 20-NQ/TW nhấn mạnh cần phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn. Theo TS Dư Văn Toán, doanh nghiệp được xác định là đối tượng chính trong nhiều ngành: hàng hải, du lịch, năng lượng tái tạo biển. Các doanh nghiệp trong nước đã có năng lực xây lắp, vận chuyển, thi công và có thể chuyển dịch sang các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, điện sóng. Nhưng để họ bước lên các nấc cao hơn của chuỗi giá trị biển – từ nuôi biển công nghệ cao đến chế biến sâu, logistics lạnh, dịch vụ tài chính biển – Nhà nước phải chấp nhận “chia sẻ quyền lực” bằng các chính sách hỗ trợ thực chất: giảm thuế, giảm chi phí thuê đất, thuê mặt biển, minh bạch quy hoạch không gian biển.

Từ khai thác thô sơ đến chuỗi giá trị cao: kinh tế biển Việt Nam phải đổi cách nghĩ

Quản trị không gian biển hiện đại: điều kiện để biển mang lại giàu có

Cốt lõi của kinh tế biển đa tầng không chỉ là thêm ngành, thêm dự án, mà là cách chúng ta quản trị không gian biển. Phát triển kinh tế biển đa tầng đòi hỏi một cuộc đổi mới tư duy quản trị, bắt đầu từ việc rà soát tổng thể, quy hoạch không gian biển tích hợp liên ngành, liên vùng, đa tầng để các ngành cùng cộng sinh phát triển, tránh chia cắt manh mún. Hiện nay, ở nhiều nơi, hoạt động sản xuất phát triển nhanh hơn hạ tầng, quy hoạch và hệ sinh thái dịch vụ hậu cần, khiến giá trị gia tăng bị chặn lại ngay tại cửa biển. Quản trị hiện đại phải coi biển là “không gian kinh tế” chứ không chỉ là mặt nước: phân vùng rõ cho nuôi biển công nghệ cao, năng lượng tái tạo biển, hành lang vận tải, khu bảo tồn; gắn quy hoạch cảng cá thông minh, kho lạnh, nhà máy chế biến với vùng nguyên liệu. Làm việc trên biển cũng cần nguồn nhân lực có tri thức về biển, công nghệ biển và khả năng chịu điều kiện khắc nghiệt, nếu không, mọi chiến lược sẽ mắc kẹt ở bản vẽ.

Sammfy nhận hoa hồng khi bạn mua sắm qua liên kết của chúng tôi, bạn không phải trả thêm chi phí.

You May Also Like

Comments
Viết gì đó...
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ suy nghĩ!