Bước ngoặt quy hoạch: khi đô thị Việt Nam không còn phát triển dàn hàng ngang
Quy hoạch đô thị đa tâm và mô hình trục cảnh quan sông là hai hướng tiếp cận mới trong phát triển khu đô thị, ưu tiên cấu trúc không gian linh hoạt, kết nối hạ tầng hiện đại với bảo tồn cảnh quan tự nhiên và giá trị lịch sử, thay vì mở rộng đô thị dàn trải, cắt đứt môi trường và bản sắc địa phương. Chính quyền tỉnh An Giang đã phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Tịnh Biên đến năm 2050 với diện tích khoảng 12.494,6ha, còn Ninh Bình phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch khu đô thị hai bên sông Đáy rộng khoảng 6.670ha hướng tới 650.000 dân. Hai động thái này cho thấy Việt Nam không chỉ thêm những thành phố mới trên bản đồ, mà thử nghiệm hai “hình hài” đô thị tương lai rất khác nhau: một bên đa tâm xoay quanh núi Ngũ Hồ Sơn, một bên là trục cảnh quan sông kết nối hai bờ.

Tịnh Biên: đô thị đa tâm xoay quanh hạt nhân cảnh quan Ngũ Hồ Sơn
Tịnh Biên đang được định hình như một phòng thí nghiệm sống cho quy hoạch đô thị đa tâm. UBND tỉnh An Giang thông qua Quyết định 4030 ngày 25/8/2026 phê duyệt quy hoạch chung Tịnh Biên đến năm 2050, bao trùm hai phường Tịnh Biên và Thới Sơn với diện tích khoảng 12.494,6ha. Cốt lõi của cấu trúc này là hai trung tâm hiện hữu đóng vai trò đô thị cửa ngõ và một hạt nhân cảnh quan – khu vực núi Ngũ Hồ Sơn – được chọn làm trung tâm đô thị, tập trung du lịch, dịch vụ, thương mại, văn hóa, tâm linh.
Sự lựa chọn này mang tính tuyên ngôn: thay vì đặt trung tâm ở nơi đất phẳng dễ san lấp, Tịnh Biên chấp nhận quy hoạch xoay quanh một khối núi mang tính biểu tượng, biến Ngũ Hồ Sơn thành bản sắc đô thị. Bốn phân khu được thiết kế như bốn “cửa” của một cấu trúc mở: khu cửa ngõ phía Đông 3.706,9ha với 52.000 dân dự kiến, khu du lịch – dịch vụ Ngũ Hồ Sơn 2.358,1ha cho 37.000 dân, trung tâm phường Tịnh Biên và khu kinh tế cửa khẩu. Dân số hướng tới 125.000 người vào 2050, trong đó 85.000 người thường trú, là một con số khiêm tốn nếu so với nhiều đô thị khác, nhưng đủ để thử nghiệm mô hình đa tâm gắn với cửa khẩu và cao tốc.
Không thể bỏ qua hạ tầng – yếu tố thường quyết định đô thị thành “thành phố” hay chỉ là cái tên trên giấy. Một trích dẫn đáng chú ý là: “Hạ tầng giao thông phường Tịnh Biên được đầu tư đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân”. Quốc lộ 91 được mở rộng lên 2–6 làn, Quốc lộ 91C kết nối cao tốc Châu Đốc – Cần Thơ – Sóc Trăng được nâng lên đường cấp III, cùng tuyến vành đai và bến xe mới khoảng 5ha di dời ra ngoại thành. Tất cả cho thấy quy hoạch đô thị đa tâm tại đây không chỉ là sơ đồ phân khu, mà gắn chặt với chiến lược đón luồng hàng hóa, khách du lịch, lao động, biến Tịnh Biên thành nút giao biên giới thay vì một thị trấn biên cương lùi lại phía sau.
Sông Đáy: từ ranh giới tự nhiên thành trục cảnh quan của một đại đô thị
Nếu Tịnh Biên coi núi Ngũ Hồ Sơn là hạt nhân, thì Ninh Bình chọn sông Đáy làm “xương sống” đô thị mới. Đồ án quy hoạch khu đô thị hai bên sông Đáy rộng khoảng 6.670ha, với dân số dự kiến 650.000 người. Nhưng điểm đáng nói không phải ở quy mô, mà ở cách nhìn lại một dòng sông vốn bị coi là ranh giới hành chính: sông Đáy được xác định là trục cảnh quan và không gian công cộng xuyên suốt, kết nối hai khu vực đô thị hai bờ thành một chỉnh thể thống nhất, hiện đại nhưng vẫn bảo tồn giá trị lịch sử, văn hóa.
Quy hoạch cũng không giấu tham vọng chính trị – hành chính của mình khi đặt mục tiêu đây là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa và dịch vụ của tỉnh, đồng thời là đầu mối giao thông, cửa ngõ phía Nam đồng bằng sông Hồng. UBND tỉnh giao Sở Xây dựng lập quy hoạch trong thời gian không quá 9 tháng từ khi chọn tư vấn đến khi trình thẩm định – một mốc thời gian rõ ràng cho thấy quyết tâm sớm biến ý tưởng thành khung pháp lý. Câu nói đáng trích dẫn ở đây là: “Đồ án quy hoạch lấy sông Đáy làm trục cảnh quan, kết nối hai bờ thành một không gian đô thị thống nhất, hiện đại nhưng vẫn bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hóa”.
Điều thú vị là hai bờ không được quy hoạch đối xứng, mà bổ trợ: bờ Đông phát triển đô thị mới hiện đại, đồng bộ, thông minh; bờ Tây giữ cấu trúc làng xóm, không gian truyền thống, mặt nước, làng nghề và di tích. Cách tổ chức này tạo dư địa cho công viên, quảng trường, tuyến cảnh quan ven sông kết hợp du lịch và dịch vụ. Đồng thời, quỹ đất cho nhà ở xã hội, tái định cư, cây xanh, bãi đỗ xe và hạ tầng xã hội phải được bố trí hợp lý để đáp ứng quy mô 650.000 dân tương lai. Đây không phải kiểu phát triển khu đô thị bằng mọi giá; các kịch bản dân số sẽ được so sánh dựa trên quỹ đất, việc làm và khả năng thu hút cư dân, một cách tiếp cận thận trọng hiếm thấy trong các làn sóng mở rộng đô thị trước đây.
Khi hiện đại hóa buộc phải học cách sống chung với ký ức và thiên nhiên
Điểm chung đáng mừng giữa Tịnh Biên và khu đô thị sông Đáy là cả hai đều từ chối lối phát triển đô thị “xóa sạch rồi xây mới”. Tịnh Biên được định hướng là đô thị biên giới xanh, thông minh, bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu, với Ngũ Hồ Sơn trở thành biểu tượng nhận diện du lịch – thương mại, văn hóa – tâm linh. Ninh Bình, trong khi đó, yêu cầu bảo tồn các di tích lịch sử, công trình tôn giáo, tín ngưỡng, làng nghề và cấu trúc không gian truyền thống, đồng thời xây dựng kịch bản ứng phó mưa cực đoan, ngập lụt và biến đổi khí hậu, đảm bảo hồ điều hòa, kênh dẫn, trạm bơm được đầu tư đi trước hoặc song hành với đô thị hóa.
Nói cách khác, cả hai dự án đều đang thử tìm câu trả lời Việt Nam cho bài toán đô thị bền vững Việt Nam: làm thế nào để phát triển khu đô thị mới mà không phá nát cảnh quan và ký ức? Ở Tịnh Biên, câu trả lời là quy hoạch đô thị đa tâm gắn với cửa khẩu, cao tốc và một hạt nhân cảnh quan núi; ở sông Đáy, đó là trục cảnh quan sông với cấu trúc “hiện đại – truyền thống” chia đôi hai bờ. Cả hai đều đặt hạ tầng xanh – xanh lam, từ công viên, hồ điều hòa đến hệ thống thoát nước, ở vị trí trung tâm chứ không phải phụ trợ.
Tuy vậy, rủi ro vẫn còn: quy hoạch có thể đẹp trên giấy nhưng méo mó khi triển khai nếu thiếu kỷ luật quản lý đất đai, thiếu tiếng nói của cộng đồng và áp lực lợi ích ngắn hạn quá lớn. Với Tịnh Biên, thách thức là làm sao vừa đón luồng logistics, du lịch biên giới, vừa giữ được tỷ lệ đất nông nghiệp và các chức năng khác vốn đang chiếm hơn 2/3 diện tích. Với sông Đáy, bài toán là kiểm soát mật độ 650.000 dân và đảm bảo cầu, đường, công trình ven sông không làm tổn thương khả năng thoát lũ, giao thông thủy. Những dự án này chỉ thực sự trở thành hình mẫu cho quy hoạch đô thị bền vững khi người dân cảm nhận được lợi ích rất cụ thể: đi lại thuận tiện hơn, không gian công cộng nhiều hơn, nhà ở xã hội và tái định cư được bố trí hợp lý, và quan trọng nhất là họ không bị coi là “vật cản” phải dẹp đi cho những bản vẽ hào nhoáng.






