Áp lực thi cử học sinh là sản phẩm của hệ thống thiếu chỗ học tốt
Áp lực thi cử học sinh là tình trạng căng thẳng kéo dài xuất phát chủ yếu từ cạnh tranh gay gắt giành chỗ học trong các trường được xem là tốt, gắn với thi tuyển đầu vào, dạy thêm học thêm và nỗi lo mất cơ hội học tập đúng mong muốn của gia đình, hơn là do năng lực hay ý thức cá nhân của từng em. Tâm điểm của cuộc tranh luận lần này nằm ở nhận định thẳng thắn của Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn: muốn giảm áp lực phải chữa từ gốc của hệ thống, không thể tiếp tục quy trách nhiệm cho học sinh hay phụ huynh.
Ngày 28/8, tại tọa đàm chuyên đề về những nội dung cốt lõi, chiến lược trong giáo dục và các vấn đề nóng của ngành, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn đã đặt lại toàn bộ câu chuyện áp lực thi vào lớp 10 và dạy thêm học thêm trên nền tảng cơ sở hạ tầng giáo dục và phân bổ cơ hội học tập. Cách nhìn này quan trọng vì nó chuyển trọng tâm từ “cố gắng cá nhân” sang trách nhiệm thiết kế hệ thống. Nói cách khác, khi chính sách giáo dục tạo ra nút thắt, thi cử chỉ là cái van xả áp cho sự thiếu hụt cấu trúc.

Khi chưa đủ trường lớp, thi cử và dạy thêm trở thành cuộc đua giành suất
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nêu rõ: áp lực thi cử, học thêm, dạy thêm phải được giải quyết từ những nguyên nhân căn bản của hệ thống, trong đó có sự mất cân đối giữa nhu cầu học tập và khả năng đáp ứng về trường, lớp. Nói thẳng ra, khi cơ sở hạ tầng giáo dục không đủ, mỗi suất học ở trường công lập tốt trở thành tài nguyên khan hiếm; thi cử biến thành vòng loại sinh tồn chứ không còn là bước đánh giá bình thường.
Áp lực tuyển sinh lớp 10 vì thế không dàn đều, mà dồn vào các thành phố lớn và đô thị – nơi dân số tăng nhanh nhưng tốc độ xây trường, mở lớp lại chậm hơn. Trong bối cảnh đó, dạy thêm học thêm trở thành công cụ để phụ huynh cố gia tăng cơ hội cho con, còn học sinh buộc phải lao vào vòng xoáy luyện đề. Một câu nói có thể trích dẫn ở đây là: “Khi chưa đủ trường, đủ lớp, chưa có đủ chỗ học tốt, học sinh phải cạnh tranh để giành cơ hội vào trường, kéo theo áp lực thi cử, học thêm, dạy thêm và nguy cơ phát sinh tiêu cực”.

Phân luồng sau THCS: sai ở cách làm, không sai ở chủ trương
Trong nhiều năm, phân luồng được áp dụng bằng cách siết chỉ tiêu vào lớp 10 công lập để “đẩy” học sinh sang giáo dục nghề nghiệp. Cách làm này, theo chính người đứng đầu ngành, là cứng nhắc và phản tác dụng: trong khi tâm lý xã hội vẫn chuộng con đường trung học phổ thông, việc hạn chế chỉ tiêu chỉ đẩy học sinh vào cạnh tranh gắt hơn, làm gia tăng áp lực thi cử, học thêm, dạy thêm. Chính sách giáo dục nếu chỉ tạo rào chắn mà không mở thêm lựa chọn hấp dẫn, về bản chất đang đặt gánh nặng điều chỉnh lên vai học sinh.
Bộ trưởng nhấn mạnh, phân luồng là chủ trương đúng khi mục tiêu là giúp mỗi học sinh chọn con đường phù hợp với năng lực, sở trường, sở thích. Nhưng để phân luồng “mềm” thay vì “chặn cửa”, hệ thống phải nâng chất lượng và sức hút của giáo dục nghề nghiệp, đồng thời giảm chênh lệch giữa các trường THPT. Khi chất lượng tương đối đồng đều, phụ huynh không còn phải “sống chết” tranh suất ở vài trường top, và áp lực thi cử học sinh tự khắc hạ nhiệt.
Giải pháp căn cơ: đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên và cơ hội học tập công bằng
Tại tọa đàm, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn khẳng định giảm áp lực cho học sinh phải bắt đầu từ những giải pháp căn cơ: bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên; mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng, có chất lượng; đồng thời đổi mới quản trị, ứng dụng công nghệ để nâng cao chất lượng dạy và học. Đây là cách tiếp cận hệ thống đúng hướng: giải quyết cơ sở hạ tầng giáo dục thay vì chỉ siết dạy thêm học thêm ở phần ngọn.
Một minh chứng quan trọng cho việc mở rộng cơ hội là việc sau một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, số học sinh vào lớp 10 đã tăng 24% nhờ nhiều địa phương tăng chỉ tiêu, mở thêm trường và lớp. Đồng thời, chủ trương xây dựng 248 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được xem là bước đi chiến lược để học sinh vùng khó có điều kiện học tập tốt hơn. Khi khả năng đáp ứng về trường, lớp dần phù hợp nhu cầu, việc tiếp nhận học sinh sẽ thuận tiện hơn, gần nơi cư trú và bớt cạnh tranh căng thẳng.
Từ quản lý sang quản trị, từ thi cử sang cá nhân hóa học tập
Muốn áp lực thi cử không tiếp tục lan thành áp lực cuộc sống, hệ thống phải thay đổi cách vận hành. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang xây dựng bộ chỉ số phát triển giáo dục ở cấp quốc gia, địa phương và đại học, dựa trên dữ liệu và các điều kiện, kết quả giáo dục cụ thể. Nếu được dùng nghiêm túc, đây sẽ là công cụ để giám sát chất lượng thực chất, thay vì chỉ chạy theo thành tích thi cử – một dạng áp lực vô hình khác đổ lên đầu học sinh.
Song song, Bộ đang phát triển nền tảng giáo dục thông minh quốc gia, hướng đến hỗ trợ quá trình học, gợi ý cách tiếp cận, giúp người học hình thành phương pháp, tư duy và năng lực giải quyết vấn đề, với kế hoạch thử nghiệm trước ở môn Toán và Tiếng Anh. Điều quan trọng, như Bộ trưởng nhấn mạnh, không phải để công nghệ làm thay việc học, mà để mỗi người học biết cách học tốt hơn, chủ động hơn và sử dụng AI có trách nhiệm. Khi hành trình học tập được cá nhân hóa, vai trò của các kỳ thi “một cỡ cho tất cả” sẽ giảm dần, kéo theo áp lực thi cử học sinh và nhu cầu dạy thêm học thêm cũng không còn bùng nổ như hiện nay.






