Thiếu sách giáo khoa: khi “lỗi hệ thống” đổ lên vai học sinh
Tình trạng thiếu sách giáo khoa là việc học sinh và giáo viên không có đủ số lượng hoặc đúng bộ sách theo chương trình chính thức, kéo dài nhiều tuần sau khai giảng, khiến quá trình dạy – học phải chắp vá bằng việc mượn sách, học nhờ tài liệu điện tử và tự xoay xở từng bài, từng tiết học. Gần một tháng sau khi năm học 2026-2027 bắt đầu, nhiều lớp 11 ở phường Phú Lợi (TP Cần Thơ) vẫn có số lượng lớn học sinh thiếu sách, đặc biệt là môn Ngữ văn. Trong khi đó, tại Gia Lai, thống kê cho thấy còn hàng chục nghìn học sinh ở cả ba cấp chưa có đủ sách giáo khoa cho năm học này. Khi những bộ sách được quảng bá là “chuẩn hóa chương trình” không tới được tay học sinh, câu hỏi cần đặt ra không phải là thiếu bao nhiêu cuốn, mà là hệ thống quản lý đã sai ở đâu.

Cần Thơ: khắc phục thiếu sách nhưng vẫn lộ rõ sự bị động
Ở Cần Thơ, bức tranh thiếu sách giáo khoa cho năm học 2026-2027 có vẻ “sáng màu” hơn, nhưng không thể coi là thành công. Khảo sát ngày 30/9 tại một trường THPT ở phường Phú Lợi cho thấy nhiều học sinh lớp 11 vẫn thiếu sách, phải đi nhà sách mỗi ngày mà không mua được đủ, đặc biệt là sách Ngữ văn. Một phụ huynh thậm chí phải đi gần 250km từ Sóc Trăng lên TP.HCM vẫn không đủ bộ sách cho con. Theo báo cáo, đến hết 25/9, Cần Thơ còn 3.026 học sinh thiếu ít nhất một cuốn sách, tương ứng 9.982 bản sách phải bổ sung. Sở GD&ĐT phải làm việc trực tiếp với Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị Giáo dục Cửu Long để thiết lập kênh điều chuyển và cung ứng bổ sung khẩn cấp. Một câu nói đáng chú ý là: “TP Cần Thơ đã khắc phục tình trạng thiếu sách giáo khoa đầu năm học 2026-2027, với 9.982 bản sách được bổ sung cho 3.026 học sinh”. Vấn đề là, vì sao sự chủ động không diễn ra trước khi học sinh bước vào lớp?

Gia Lai: hàng chục nghìn học sinh thiếu sách và lời hẹn ‘cuối học kỳ I’
Nếu Cần Thơ thiếu sách mang tính cục bộ, thì Gia Lai đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng cung ứng sách giáo khoa đúng nghĩa. Năm học mới đã bước sang tuần thứ 4, nhưng phụ huynh ở Quy Nhơn Đông vẫn không thể mua đủ sách lớp 6, thiếu các môn Lịch sử và Địa lý, Khoa học tự nhiên; các nhà sách đồng loạt báo “chưa có nguồn”. Thống kê cho thấy cấp tiểu học có hơn 27.600 học sinh chưa có sách giáo khoa, trong đó hơn 25.950 em thiếu 1–2 cuốn; cấp THCS có 2.256 học sinh chưa có sách và 21.556 học sinh thiếu ít nhất 1–2 cuốn; cấp THPT có 5.099 học sinh chưa có sách và 11.418 học sinh thiếu ít nhất 1–2 cuốn. Nói cách khác, hàng chục nghìn học sinh thiếu sách giáo khoa ngay giữa năm học. Đáng lo hơn, lãnh đạo ngành giáo dục địa phương dự kiến “đến hết học kỳ I, sách giáo khoa mới cơ bản được bảo đảm”. Một hệ thống coi sách là tài liệu bắt buộc nhưng chấp nhận để học sinh chờ đến nửa năm học mới có đủ, rõ ràng đang coi nhẹ quyền được học trong điều kiện tối thiểu.

Khi sách không đến kịp lớp học: hậu quả cho học sinh và giáo viên
Thiếu sách giáo khoa không chỉ là chuyện mua chưa kịp; đó là sự đứt gãy của quá trình dạy và học. Học sinh thiếu sách phải mượn bạn, chép vội nội dung bài, hoặc phụ thuộc vào các bản chụp, tài liệu rời rạc, khiến việc tiếp thu kiến thức bị động và chắp vá. Ở Gia Lai, trong lúc chờ cung ứng sách, nhà trường cung cấp đường link, mã QR để học sinh tiếp cận tài liệu điện tử, nhưng giải pháp này chỉ mang tính tạm thời, vì không phải em nào cũng có điện thoại, máy tính và internet để sử dụng, đặc biệt trong giờ học trên lớp. Phụ huynh lúng túng khi in file sách vì lo vi phạm bản quyền, nhà sách thì “không có nguồn”. Hậu quả cuối cùng là học sinh phải tự gánh rủi ro của một chuỗi cung ứng sách vận hành thiếu trách nhiệm, còn giáo viên buộc phải dạy trong tình trạng lớp học không đồng đều về tài liệu, khó bảo đảm chất lượng.
Cung ứng sách cần thay đổi: từ bị động sang chịu trách nhiệm
Nhìn vào những gì đang diễn ra, nguyên nhân không thể đổ hết cho “thiếu nguồn” hay “nhu cầu biến động”. Ngay trong báo cáo của Cần Thơ, nguyên nhân thiếu sách được chỉ ra là một số đơn vị e ngại đăng ký, đặt sách khi có thông tin cấp phát, hỗ trợ sách giáo khoa, dẫn đến kế hoạch in ấn và phát hành không sát nhu cầu thực tế tại trường. Điều đó có nghĩa, vấn đề nằm ở khâu dự báo và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng sách. Trong khi đó, ở Gia Lai, lãnh đạo ngành giáo dục thừa nhận khó bảo đảm nguồn cung trong năm đầu thực hiện chương trình mới và phải đến hết học kỳ I mới cơ bản đủ sách. Khi năm học 2026-2027 đã khởi động, mọi sự chậm trễ đều đang chuyển hóa thành khoảng cách học tập. Muốn chấm dứt cảnh học sinh thiếu sách, cần những cam kết rõ ràng: đăng ký và cung ứng sách phải dựa trên dữ liệu chính xác, có chế tài với sự chậm trễ, và coi việc đủ sách giáo khoa là chỉ tiêu bắt buộc, chứ không phải “cố gắng nếu được”.






