Giảm môn thi: Giảm áp lực bề mặt, giữ nguyên áp lực cạnh tranh
Đề xuất giảm môn thi trong kỳ thi vào lớp 10 là chủ trương thu hẹp số lượng môn kiểm tra, thường tập trung vào Toán và Ngữ văn, với kỳ vọng giúp học sinh giảm phạm vi ôn tập, bớt căng thẳng trước kỳ thi chuyển cấp vốn có tính cạnh tranh rất cao. Tuy nhiên, việc thay đổi số môn thi không tự động đồng nghĩa với việc giảm áp lực, nếu chỉ tiêu vào trường công lập vẫn hạn chế và phương thức tuyển sinh không thay đổi theo hướng công bằng, đa dạng và nhân văn hơn. Nói cách khác, đây mới là điều chỉnh ở “phần ngọn” của hệ thống tuyển sinh lớp 10, trong khi gốc rễ của áp lực thi cử học sinh nằm ở chỗ chênh lệch lớn giữa nhu cầu học THPT công lập và khả năng đáp ứng của hệ thống.
Hằng năm, số học sinh tốt nghiệp THCS rất lớn, nhưng chỉ tiêu vào các trường THPT công lập có giới hạn; hiện tỉ lệ vào được trường công chỉ ở mức trên 60%, đồng nghĩa với việc một bộ phận rất lớn học sinh phải cạnh tranh cho số lượng chỗ học hữu hạn. Trong bối cảnh đó, đề xuất giảm số môn thi được kỳ vọng giúp học sinh thu hẹp phạm vi ôn tập trước kỳ thi chuyển cấp. Vấn đề là: khi “cửa” vào trường công không rộng hơn, cuộc đua điểm số có nguy cơ càng căng, dù số môn thi ít đi.
Lợi ích trước mắt: Hẹp phạm vi ôn tập, nhưng dồn sức vào 2 môn “tử huyệt”
Ở góc nhìn tích cực, giảm môn thi trong tuyển sinh lớp 10 giúp học sinh có thể tập trung hơn, bớt phải “trải mỏng” thời gian cho quá nhiều môn. Khi chỉ còn Toán và Ngữ văn, các em có thể chủ động lập kế hoạch ôn tập, giảm phần nào cảm giác quá tải nội dung. Với nhiều gia đình, điều này cũng đồng nghĩa giảm chi phí học thêm dàn trải, thay vào đó là đầu tư trọng tâm vào hai môn thi chính. Về mặt quản lý, việc ra đề, tổ chức coi thi, chấm thi cũng gọn hơn, giúp địa phương dễ điều phối nhân lực và thời gian.
Nhưng lợi ích này mang tính “bề mặt”. Cùng với kỳ vọng thu hẹp phạm vi ôn tập, không ít ý kiến lo ngại nguy cơ học lệch khi kết quả một số môn trở thành yếu tố quyết định cơ hội vào THPT. Khi chỉ thi Toán và Ngữ văn, học sinh có thể dồn phần lớn thời gian cho hai môn này, tăng cường học thêm, luyện đề để cạnh tranh điểm số. Điều này có thể khiến áp lực thi cử học sinh không giảm mà chuyển hóa: ít môn hơn, nhưng cường độ luyện thi cho từng môn lại nặng nề hơn, đặc biệt ở những nơi tỉ lệ chọi cao.
Mặt trái: Học lệch, méo mó mục tiêu giáo dục và cuộc đua thành tích
Khi kỳ thi vào lớp 10 chỉ xoay quanh hai môn, hệ quả dễ thấy là sự mất cân bằng trong việc học. Những môn không phục vụ tuyển sinh dễ bị giảm mức độ ưu tiên, từ Ngoại ngữ, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội đến Công nghệ, Tin học và kỹ năng sống. Cảnh báo đã được nêu rõ: giảm số môn thi có thể giúp học sinh thu hẹp phạm vi ôn tập, nhưng cũng đặt ra nguy cơ học lệch nếu kết quả của một số môn trở thành yếu tố quyết định cơ hội vào THPT. Khi thành tích tuyển sinh trở thành thước đo, nhà trường và giáo viên rất dễ dồn nguồn lực cho các môn thi, bỏ quên mục tiêu giáo dục toàn diện.
Ở cấp hệ thống, áp lực thi cử học sinh còn đến từ khoảng cách giữa nhu cầu học tập và khả năng tiếp nhận của trường công lập. Năm học 2026–2027, tại một địa phương lớn, hơn 151.000 học sinh lớp 9 tham gia kỳ thi, trong khi tổng chỉ tiêu vào lớp 10 THPT công lập là 118.550 học sinh. Chênh lệch này cho thấy áp lực tuyển sinh còn bắt nguồn từ khoảng cách giữa nhu cầu học tập và khả năng tiếp nhận của hệ thống trường công lập. Nếu không tăng nguồn lực và đa dạng hóa lựa chọn sau THCS, giảm số môn thi khó giải quyết triệt để sức ép cạnh tranh.
Quyền chủ động địa phương và nhu cầu một phương thức tuyển sinh mới
Một điểm hợp lý trong định hướng đổi mới là không áp một “khuôn” duy nhất cho mọi nơi. Các phương án tuyển sinh lớp 10 cần được cân nhắc trên cơ sở điều kiện thực tế, mục tiêu giáo dục và khả năng tổ chức của từng địa phương. Có nơi vẫn duy trì thi ba môn như Ngữ văn, Toán và Ngoại ngữ; có nơi nghiên cứu giảm môn thi nhưng kết hợp thêm các hình thức đánh giá khác. Hà Nội, chẳng hạn, đang nghiên cứu phương án xét tuyển dựa trên kết quả học tập và rèn luyện ở cấp THCS, đồng thời dự kiến thí điểm khảo sát một số khối lớp, môn học với đề chung, cùng thời điểm để từng bước hình thành mặt bằng đánh giá.
Một phương thức tuyển sinh mới được gợi ý là tổ chức bài đánh giá tổng hợp kiến thức phổ thông bên cạnh Toán và Ngữ văn, tích hợp các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, công nghệ, tin học, ngoại ngữ và hiểu biết thực tiễn. Nếu làm tốt, cách này có thể hạn chế học lệch mà không biến kỳ thi thành “siêu đề” đánh đố. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo: nếu sử dụng học bạ hoặc đánh giá mới một cách cơ học, áp lực có thể không giảm mà chuyển từ một kỳ thi sang suốt quá trình học tập nhiều năm.
Giải pháp gốc: Tăng chỗ học, phân luồng hợp lý và hướng tới tuyển sinh nhẹ nhàng
Điểm chung trong nhiều ý kiến chuyên gia là: giảm áp lực tuyển sinh không đơn thuần nằm ở số lượng môn thi. Theo phân tích, cần phân biệt rõ giữa giảm môn thi và giảm tải; tăng số trường, số lớp mới là giảm áp lực từ gốc. Hiện nay tỉ lệ học sinh vào trường công chỉ khoảng trên 60%, và cần có lộ trình để nâng dần lên 80–90%, về lâu dài hướng tới bảo đảm gần như 100% học sinh có suất học THPT công lập phù hợp nếu gia đình có nhu cầu. Khi đủ trường, đủ lớp, bản chất của kỳ thi sẽ thay đổi: học sinh thi để lựa chọn, điểm cao có nhiều lựa chọn hơn, điểm thấp hơn vẫn có nơi để học.
Cùng với mở rộng quy mô trường lớp là yêu cầu tăng cường phân luồng sau THCS và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Một học sinh không nổi trội về Toán, Ngữ văn không có nghĩa là thiếu năng lực; các em có thể mạnh về kỹ thuật, công nghệ, thực hành, kinh doanh hoặc nghệ thuật. Khi hệ thống trường lớp đã đủ, môi trường học tập minh bạch, chất lượng được công khai và việc đánh giá học sinh THCS thực chất, chúng ta hoàn toàn có thể nghĩ đến những phương thức tuyển sinh nhẹ nhàng hơn, từng bước tăng tỉ trọng xét tuyển và, khi điều kiện đã đủ chín, tiến tới nghiên cứu bỏ kỳ thi vào 10. Nếu chưa giải quyết được sự thiếu hụt trường lớp mà chỉ bỏ thi, áp lực chưa chắc biến mất; nó có thể chuyển sang cạnh tranh điểm học bạ, tiêu chí xét tuyển hay những cuộc chạy đua thành tích khác.






