Chương trình tích hợp: Cú xoay chiến lược cho vùng miền núi
Chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp về phát triển nông thôn mới, giảm nghèo dân tộc thiểu số và phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi Việt Nam giai đoạn 2026–2030 là một khuôn khổ chính sách thống nhất, nhằm tập trung nguồn lực, thu hẹp chênh lệch vùng miền và chuyển trọng tâm từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển toàn diện dựa trên cộng đồng làm chủ thể. Đây không phải một gói hỗ trợ phúc lợi, mà là bước xoay chiến lược: từ ba chương trình rời rạc giai đoạn 2021–2025 sang một chương trình tích hợp từ năm 2026, với tham vọng giải quyết cùng lúc hạ tầng, sinh kế và dịch vụ xã hội cơ bản.
Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị 22/CT-TTg ngày 22/5 về đẩy nhanh tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030. Việc phải ra chỉ thị thúc tiến độ cho thấy nút thắt lớn không còn nằm ở thiếu chủ trương, mà ở tổ chức thực hiện: nhiều bộ chưa kịp ban hành hướng dẫn bộ tiêu chí nông thôn mới mới, giải ngân vốn ngân sách nhà nước còn chậm, kỷ luật điều hành ở một số nơi chưa nghiêm. Nếu không xử lý, mọi mục tiêu giảm nghèo đa chiều sẽ tiếp tục bị kéo lùi so với kế hoạch.

Danh sách 27 tỉnh miền núi: Bản đồ bất bình đẳng được số hóa
Việc Bộ Dân tộc và Tôn giáo công bố danh sách thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và thôn đặc biệt khó khăn của 27 tỉnh, thành phố theo Quyết định 803/QĐ-BDTTG là bước khoanh vùng lại địa bàn hưởng lợi chính sách cho giai đoạn mới. Về bản chất, đây là hành động chính trị – kỹ thuật rất quan trọng: ai có tên trong danh sách sẽ nằm trong "tâm chương trình mục tiêu quốc gia"; ai bị loại ra dễ đối mặt nguy cơ rơi khỏi lưới an sinh trong khi chưa kịp tự đứng vững. Điều này đặt câu hỏi về tiêu chí, dữ liệu và khả năng giám sát độc lập khi phân loại thôn, bản.
Trường hợp Điện Biên cho thấy rõ sự phức tạp: số thôn, bản, tổ dân phố toàn tỉnh giảm từ 1.446 xuống 888 sau sắp xếp, tức giảm 558 đầu mối, trong đó có 818 đơn vị thuộc vùng dân tộc thiểu số và 632 được xếp diện đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ thôn đặc biệt khó khăn tăng từ khoảng 63,8% lên 71,2%, dù số lượng tuyệt đối thôn khó khăn lại giảm từ 923 xuống 632. Việc tỷ trọng khó khăn tăng khi đơn vị hành chính bị thu gọn cho thấy nếu chỉ nhìn vào tỷ lệ, người làm chính sách có thể đánh giá sai mức độ cải thiện thực, trong khi người dân tại các điểm vừa bị sáp nhập nhưng vẫn nghèo dễ bị “lỗi số”.

Thái Nguyên: Mô hình kết hợp nông thôn mới và phát triển dân tộc thiểu số
Thái Nguyên đang tự đặt mình vào vai “phòng thí nghiệm chính sách” khi Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết 11/NQ-TU về lãnh đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030. Điểm đáng chú ý là tỉnh coi đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của cả hệ thống, phân vai rõ: Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội tuyên truyền, giám sát. Cách tiếp cận này đúng về mặt nguyên tắc, nhưng chỉ hiệu quả nếu đi kèm cơ chế trách nhiệm và đo lường minh bạch; nếu không, khẩu hiệu dễ lấn át thực thi.
Thái Nguyên đặt mục tiêu đến năm 2030 có 95% xã đạt chuẩn nông thôn mới, khoảng 10% xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 1,5 điểm phần trăm mỗi năm và tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số, miền núi giảm xuống dưới 10%. Đồng thời, tỉnh phấn đấu thu nhập bình quân dân nông thôn tăng 2,5–3 lần so với năm 2020, thu hẹp dần khoảng cách thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số với mức chung. Điều quan trọng nhất là tỉnh tuyên bố lấy người dân làm chủ thể, Nhà nước định hướng – hỗ trợ, doanh nghiệp và hợp tác xã là động lực kinh tế, đồng thời yêu cầu phát huy tinh thần tự lực để hạn chế tư tưởng trông chờ, ỷ lại.
Cơ chế thực thi: Từ văn bản đến sinh kế và hạ tầng thiết yếu
Trọng tâm của Chỉ thị 22 không chỉ là thúc giải ngân, mà là tái thiết kế cách triển khai chương trình mục tiêu quốc gia để tiền ngân sách chuyển thành thay đổi cụ thể cho người dân vùng miền núi Việt Nam. Thủ tướng yêu cầu coi triển khai chương trình là nhiệm vụ chính trị cấp bách, giao trách nhiệm rõ đến người đứng đầu, ưu tiên xử lý các dự án dở dang, không bố trí vốn dàn trải, không để phát sinh nợ đọng xây dựng cơ bản, thất thoát hay lãng phí. Tinh thần phân cấp mạnh cho cấp tỉnh, cấp xã đi kèm nhấn mạnh “không đùn đẩy, né tránh trách nhiệm” là thông điệp chính trị cần thiết, nếu được giám sát chặt, có thể chặn tình trạng chậm tiến độ kéo dài.
Về nội dung, Chỉ thị yêu cầu các địa phương xây dựng nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách ưu tiên mức cao nhất cho xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo để giải quyết các vấn đề cấp thiết: đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và hạ tầng xã hội thiết yếu. Song song, Thái Nguyên cho thấy cách cụ thể hóa khi ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, nhất là giao thông, điện, nước, y tế và giáo dục, đồng thời triển khai đồng bộ chính sách hỗ trợ sản xuất, đa dạng hóa sinh kế, đào tạo nghề gắn với việc làm và bảo đảm người dân tiếp cận bình đẳng dịch vụ xã hội cơ bản. Đây là hướng đi đúng: hạ tầng phải đi cùng sinh kế và dịch vụ, nếu không, đường bê tông vẫn có thể dẫn tới đói nghèo mới.
Rủi ro và điều kiện để giảm nghèo bền vững, không ai bị bỏ lại
Dù khung chiến lược đã định hình khá rõ, rủi ro lớn nhất của giai đoạn 2026–2030 là khoảng cách giữa văn bản và thực tế vùng sâu, vùng xa. Khi danh sách thôn đặc biệt khó khăn được điều chỉnh, nguy cơ một số cộng đồng "lọt lưới" hỗ trợ là có thật nếu tiêu chí thiếu linh hoạt và không có cơ chế kiến nghị, rà soát định kỳ. Bài học từ các chương trình trước cho thấy nơi nào chính quyền cơ sở yếu, người dân ít tham gia, nơi đó dễ xảy ra tình trạng công trình kém chất lượng, sinh kế không bền vững và tái nghèo sau khi dự án kết thúc. Vì vậy, khẩu hiệu “lấy người dân làm chủ thể” chỉ có ý nghĩa khi người dân thực sự được tham gia bàn, giám sát và hưởng lợi trực tiếp.
Một tín hiệu tích cực là trung ương đã ấn định các mốc thời gian rất cụ thể: yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hướng dẫn tiêu chí quốc gia về nông thôn mới trước ngày 30/5/2026, và Chủ tịch UBND cấp tỉnh phải kiện toàn Ban Chỉ đạo Chương trình, cơ quan thường trực, giúp việc trước ngày 10/6/2026. Ở cấp tỉnh, như Thái Nguyên, đảng ủy UBND tỉnh được giao nhiệm vụ cụ thể hóa nghị quyết thành chương trình, kế hoạch, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra và báo cáo kết quả. Nếu các địa phương dám đặt mục tiêu tham vọng như Thái Nguyên nhưng đồng thời chấp nhận bị giám sát chặt bởi người dân, báo chí và các cơ quan độc lập, chương trình mục tiêu quốc gia tích hợp có thể trở thành bước ngoặt để phát triển nông thôn mới gắn với giảm nghèo dân tộc thiểu số một cách bền vững.







