Hầm xuyên núi cấp đặc biệt: Thước đo mới của công trình hạ tầng Việt Nam
Hầm xuyên núi Việt Nam cấp đặc biệt là những công trình giao thông ngầm có chiều dài, điều kiện địa chất và yêu cầu an toàn ở mức cao nhất, đòi hỏi công nghệ thi công hầm đặc biệt, hệ thống thiết bị kỹ thuật phức tạp và khả năng kiểm soát rủi ro địa chất, thuỷ văn liên tục trong suốt quá trình thi công và khai thác. Nhìn vào bức tranh công trình hạ tầng Việt Nam hiện nay, hầm Hải Vân 2 dài 6,2 km thuộc dự án đường bộ Đèo Cả là ví dụ điển hình cho cấp đặc biệt này. Đây là một trong những hầm xuyên núi khó khăn bậc nhất về mặt kỹ thuật và giải pháp công nghệ, khi vừa phải thi công, vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hầm Hải Vân 1 đang khai thác ngay bên cạnh. Hệ thống chiếu sáng, báo cháy, cấp điện dự phòng… được tổ chức như một “công trình ngầm sống”, thay vì chỉ là một đường ống giao thông đơn thuần.
Sự cố hàng nghìn khối đá sập: bài kiểm tra bản lĩnh kỹ sư Việt
Hầm đặc biệt đồng nghĩa với rủi ro địa chất cực cao, và sự cố tại hầm Hải Vân 2 là bài kiểm tra khắc nghiệt nhất. Trong quá trình chuẩn bị hợp long, một đoạn tuyến hầm dài hàng chục mét bất ngờ bị sụt đất, phun mạch nước ngầm, kéo theo hàng nghìn khối đất đá đổ xuống, lấp toàn bộ đoạn hầm. Với bất kỳ dự án nào khác, đây có thể là cú đánh gãy tiến độ và niềm tin. Điều đáng nói là nhà thầu Đèo Cả đã xử lý sự cố mà vẫn bảo đảm an toàn tuyệt đối và giữ vững tiến độ thi công. Câu chuyện này cho thấy thi công hầm đặc biệt không chỉ là chuyện máy móc và công nghệ, mà là năng lực tổ chức, phán đoán hiện trường và quyết đoán của đội ngũ kỹ sư. Hơn 500 kỹ sư, công nhân đã được huy động ở giai đoạn nước rút để đưa công trình về đích sau gần 5 năm thi công.
NATM và bước chuyển từ “đào mỏ” sang tư duy hầm hiện đại
Nếu chỉ nhìn hầm xuyên núi như một đường ống bê tông, chúng ta sẽ bỏ qua cuộc cách mạng kỹ thuật đang diễn ra dưới lòng núi. Trước đây, các doanh nghiệp trong nước chủ yếu dùng phương pháp mỏ, khiến vỏ hầm phải thiết kế dày, tốn kém vật liệu mà vẫn khó xử lý triệt để các vấn đề gia cố theo điều kiện địa chất thực tế. Với hầm Hải Vân 2, phương pháp NATM được áp dụng như một bước ngoặt công nghệ. Nguyên tắc “đá núi là một phần kết cấu” giúp hệ chống đỡ mềm dẻo, thi công kịp thời để ngăn biến dạng bất lợi, tận dụng cường độ khối đá xung quanh. Nhờ đó, kích thước vỏ hầm được tối ưu, trình tự gia cố linh hoạt hơn và có thể điều chỉnh theo từng đoạn địa chất khác nhau. Việc kết hợp khoan nổ, bê tông phun, neo đá… cho thấy kỹ sư Việt Nam đã làm chủ những công nghệ đào hầm tiên tiến của thế giới.
Hầm Đại Huệ: cửa hầm đầu tiên và ý nghĩa trên cao tốc Vinh Thanh Thủy
Trên tuyến cao tốc Vinh Thanh Thủy dài hơn 60 km, quy mô 4–6 làn xe, hầm Đại Huệ là công trình hầm duy nhất, xuyên qua dãy Rú Miệu ở Nghệ An. Hầm được thiết kế hai nhánh riêng biệt, mỗi nhánh 3 làn xe, vận tốc thiết kế 100 km/h, chiều rộng mặt cắt ngang 14,05 m, phần xe chạy 11,25 m cùng dải an toàn và đường công vụ bố trí hợp lý. Về bản chất, đây là “nút thắt núi” quyết định thông suốt toàn tuyến. Việc liên danh Tập đoàn Đèo Cả – Công ty Delta chính thức mở cửa phía Tây, nhánh trái của hầm Đại Huệ vào sáng 24/9, sau gần 4 tháng hạ mái cơ, đánh dấu mốc kỹ thuật quan trọng. Ngay sau khi mở cửa, máy móc đã được đưa vào khoan những mũi khoan hầm đầu tiên, đưa hạng mục bước sang giai đoạn thi công chính. Đây không chỉ là cột mốc tiến độ, mà là lời khẳng định năng lực thi công hầm xuyên núi Việt Nam đã đủ tự tin xử lý các cửa hầm phức tạp trên địa hình miền Trung.

Từ Hải Vân 2 đến Đại Huệ: xây bản lĩnh trên địa chất phức tạp
Nhìn lại chuỗi hầm Đèo Cổ Mã, Đèo Cả, Cù Mông rồi đến Hải Vân 2, có thể thấy hầm xuyên núi không còn là “lãnh địa” của nhà thầu ngoại. Hầm Hải Vân 2 – công trình giao thông cấp đặc biệt dài 6,2 km – đã chứng minh người Việt Nam làm chủ và sáng tạo công nghệ đào hầm tiên tiến để thực hiện dự án quy mô quốc tế. Còn trên cao tốc Vinh Thanh Thủy, hầm Đại Huệ trở thành điểm nhấn công trình hạ tầng Việt Nam với giá trị xây dựng 600 tỷ đồng cho hai nhánh dài gần 500 m mỗi nhánh. Theo Ban Quản lý dự án, toàn tuyến cao tốc Vinh Thanh Thủy có tổng mức đầu tư 24.000 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành và đưa vào sử dụng cùng thời điểm hoàn thiện hầm Đại Huệ vào năm 2028. Với kế hoạch mở thêm cửa hầm nhánh phải và phía Đông trong 2–3 tháng tới, cùng việc lựa chọn nốt nhà thầu cho các gói còn lại trong tháng 9/2026, bức tranh đang rõ dần: Việt Nam bước vào giai đoạn mới, nơi việc chinh phục địa chất phức tạp bằng hầm đặc biệt trở thành năng lực thường trực chứ không còn là ngoại lệ.






