Nghịch lý: công bố áp đảo, doanh thu thương mại hóa “hạt cát”
Chuyển giao công nghệ Việt Nam trong khối đại học là quá trình biến kết quả nghiên cứu, sáng chế và tri thức khoa học thành sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp được doanh nghiệp và xã hội trả tiền sử dụng, qua đó tạo doanh thu cho trường và giá trị mới cho nền kinh tế. Nghịch lý lớn nhất hiện nay là hệ thống đại học đang dẫn dắt sản lượng khoa học nhưng lại đứng rất khiêm tốn trên bản đồ thương mại hóa nghiên cứu.
Các trường đại học hiện nắm khoảng 83% lực lượng nghiên cứu của cả nước, đóng góp hơn 83% công bố quốc tế. Năm 2025, khối này có 21.014 bài trên cơ sở dữ liệu Scopus, tăng 16,1% so với năm trước và chiếm 83,61% tổng công bố toàn quốc. Đồng thời, các trường đã nộp 496 đơn sáng chế trong năm 2025 và 513 đơn chỉ trong 9 tháng năm 2026, vượt cả năm trước.
Thế nhưng, doanh thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học chỉ chiếm 4,94% tổng doanh thu, dù đã tăng 58,07% so với năm 2024. Nói cách khác, “đường ống” sản xuất tri thức đang hoạt động hết công suất, nhưng “vòi” chuyển giao công nghệ Việt Nam vẫn chỉ nhỏ giọt.

Khoảng cách đại học – doanh nghiệp: khi bài báo dừng ở mức phòng thí nghiệm
Khoảng cách đại học doanh nghiệp không nằm ở chỗ thiếu ý tưởng, mà nằm ở chỗ ý tưởng không được “nuôi” đến mức doanh nghiệp có thể chấp nhận rủi ro để ứng dụng. Theo lãnh đạo ngành giáo dục, phần lớn kết quả nghiên cứu dùng ngân sách nhà nước mới dừng ở mức độ sẵn sàng công nghệ 3–4, trong khi doanh nghiệp cần tối thiểu mức 6–7 để ứng dụng. Đây là khoảng trống khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó vượt qua giai đoạn thử nghiệm để tiến tới thương mại hóa.
Trường Đại học Tây Nguyên là ví dụ điển hình: giai đoạn 2021–2025, trường triển khai 519 đề tài với kinh phí khoảng 83 tỷ đồng và gần 400 công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín, nhưng chỉ thu về 1 bằng sáng chế và 2 giải pháp hữu ích. Điều đó cho thấy, trong hệ sinh thái hiện tại, bài báo khoa học được xem là “đích đến”, trong khi với doanh nghiệp, đó mới chỉ là “điểm xuất phát” cho một sản phẩm.
Theo Thứ trưởng Phạm Quang Hưng, thực tế này cho thấy cần kết nối nguồn lực nghiên cứu của đại học với nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, nhất là khi nhiều địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Nếu không, chúng ta sẽ tiếp tục chứng kiến cảnh một bên “khát” công nghệ, bên kia “thừa” đề tài, nhưng hai đường thẳng song song không gặp nhau.
“Thung lũng chết” khoa học: đứt gãy ở khâu trung gian và thiếu tiền cho thử nghiệm
Ở nhiều địa phương như Đắk Lắk, chỉ 25–30% kết quả nghiên cứu được ứng dụng hoặc thương mại hóa. Mối liên kết Nhà nước–Nhà trường–Doanh nghiệp đang bị đứt gãy nghiêm trọng ở khâu trung gian, tạo nên một thung lũng chết khoa học khiến ý tưởng không thể trở thành sản phẩm thương mại. Sự tắc nghẽn nằm ở chỗ thiếu nguồn lực cho nguyên mẫu (prototype), kiểm chứng khái niệm (PoC) và sản phẩm khả dụng tối thiểu (MVP).
Các dự án ươm tạo của sinh viên, giảng viên thường chỉ cần 100–300 triệu đồng nhưng lại vướng cơ chế chi tiêu cứng nhắc: khó mua vật tư thử nghiệm, khó kiểm nghiệm thị trường, khó đăng ký sở hữu trí tuệ. Ngay cả các đơn vị nghiên cứu đầu ngành, sở hữu tài sản trí tuệ đã có thương hiệu, cũng gặp lực cản khi thương mại hóa vì cơ chế quản lý tài sản công và định giá sở hữu trí tuệ chưa rõ ràng.
Chúng ta đang thiếu một cấu trúc trung gian đổi mới sáng tạo chuyên nghiệp. Khi không có tổ chức đứng giữa để gánh rủi ro, chia sẻ lợi ích và “dịch” ngôn ngữ khoa học sang ngôn ngữ kinh doanh, chuỗi liên kết ba nhà biến thành những mắt xích rời rạc. Nguồn lực chất xám trị giá hàng nghìn tỷ đồng tiếp tục bị chôn chân trong phòng thí nghiệm.
Nhà nước đã làm gì và vì sao vẫn chưa đủ?
Không thể nói hệ thống thiếu hoàn toàn chính sách. Các điều kiện về thể chế cơ bản đã được hình thành; vấn đề nằm ở tổ chức thực hiện, tức là biến chủ trương thành đơn đặt hàng có kinh phí, liên minh hợp tác có cơ chế quản trị và sản phẩm có người sử dụng. Một khảo sát với 211 cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cho thấy nút thắt lớn nhất của liên kết ba bên không còn ở chính sách mà ở triển khai: ai đặt hàng và trả tiền, tiền đi qua kênh nào, ai được bảo vệ khi chấp nhận rủi ro, ai điều phối và đo kết quả.
Liên kết ba nhà hiện đối mặt ít nhất sáu điểm nghẽn: đơn đặt hàng không gắn với kinh phí và cam kết tiếp nhận; thiếu vốn đối ứng cho giai đoạn phát triển, thử nghiệm, thương mại hóa; cơ chế quản lý tài sản công và định giá sở hữu trí tuệ mơ hồ khiến lãnh đạo e ngại trách nhiệm; thiếu tổ chức trung gian; thiếu nhân lực “phi khoa học” như luật sư, chuyên gia tài chính, marketing để gói sản phẩm; và chưa có hệ thống đo lường hiệu quả rõ ràng.
Dù vậy, vẫn có những điểm sáng: một số trường như Đại học Bách khoa thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM đạt doanh thu 137 tỷ đồng, khoảng 60% từ nghiên cứu đặt hàng. Điều này chứng minh, khi nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường, thương mại hóa nghiên cứu hoàn toàn có thể trở thành nguồn thu đáng kể.
Xây cầu vượt “thung lũng chết”: từ danh mục sản phẩm đến doanh nghiệp khởi nguồn
Để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, không thể chỉ kêu gọi chung chung về “liên kết ba nhà”. Cần những cây cầu cụ thể bắc qua thung lũng chết khoa học. Bộ phụ trách giáo dục đã tổng hợp danh mục hơn 1.000 sản phẩm công nghệ sẵn sàng chuyển giao của 41 đơn vị thuộc 19 bộ, ngành, địa phương. Tính đến tháng 10/2026, danh mục này đạt 1.022 sản phẩm và công nghệ sẵn sàng chuyển giao. Đây là bước quan trọng để doanh nghiệp nhìn thấy “hàng hóa công nghệ” cụ thể, thay vì chỉ nghe khẩu hiệu.
Tuy nhiên, danh mục chỉ là bước đầu. Thực tế cho thấy khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và tiềm năng thương mại hóa vẫn rất lớn. Để bắc cầu, Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất bảy mô hình hợp tác chủ chốt, vận hành trên ba nguyên tắc cơ bản nhằm nối nghiên cứu với thị trường. Đồng thời, Bộ kiến nghị thí điểm Chương trình Liên minh nghiên cứu hợp tác ba nhà theo cơ chế đồng tài trợ, tham khảo kinh nghiệm các trung tâm nghiên cứu hợp tác của Australia.
Một bước đi đáng chú ý khác là đề xuất thí điểm mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ trường đại học tại Đại học Bách khoa Hà Nội, theo cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, tối đa 15 doanh nghiệp trong 24 tháng. Nếu được triển khai nghiêm túc, đây có thể là “phòng thí nghiệm thể chế” cho chuyển giao công nghệ Việt Nam, nơi các rào cản về tài sản công, chia sẻ lợi ích và chấp nhận rủi ro được xử lý trong khuôn khổ rõ ràng.
Kết luận, các trường đại học Việt Nam công bố nhiều nhưng kiếm ít từ chuyển giao công nghệ không phải vì thiếu năng lực, mà vì thiếu cầu nối và cơ chế chia sẻ rủi ro. Khi đơn đặt hàng gắn với kinh phí, khi có tổ chức trung gian chuyên nghiệp, khi doanh nghiệp khởi nguồn được bảo hộ, khoảng cách đại học doanh nghiệp sẽ thu hẹp. Lúc đó, bài báo khoa học mới thực sự có cơ hội trở thành dòng tiền, chứ không dừng lại ở những con số đẹp trong báo cáo.






