Nhập siêu Việt Nam: Tăng trưởng lớn nhưng cán cân thương mại âm nặng
Nhập siêu Việt Nam là tình trạng tổng giá trị hàng hóa nhập khẩu lớn hơn tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu trong một khoảng thời gian xác định, khiến cán cân thương mại âm và phản ánh sự lệ thuộc ngày càng cao vào nguồn cung từ nước ngoài cho sản xuất, tiêu dùng và đầu tư trong nước. Dù xuất nhập khẩu tăng mạnh, nhập siêu nới rộng cho thấy chất lượng tăng trưởng ngoại thương chưa bền vững, và cấu trúc kinh tế vẫn dựa nhiều vào nhập khẩu nguyên liệu, linh kiện và công nghệ thay vì nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa.
Tính đến 15/9, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã vượt 825 tỷ USD, tăng 29,4%, nhưng cán cân thương mại lại âm tới 23,5 tỷ USD. Nửa đầu tháng 9, xuất nhập khẩu tăng tốc với 54,86 tỷ USD, song nhập khẩu 28,84 tỷ USD cao hơn xuất khẩu 26,02 tỷ USD, khiến chỉ trong nửa tháng nền kinh tế đã nhập siêu 2,82 tỷ USD. Điều đáng bàn là tăng trưởng nhập khẩu 36% đang bỏ xa mức tăng 23,2% của xuất khẩu, phản ánh một xu hướng thâm hụt thương mại kéo dài chứ không chỉ là biến động ngắn hạn.

Nhóm công nghệ: Đầu tàu xuất khẩu nhưng cũng là tâm điểm thâm hụt
Nếu chỉ nhìn vào con số, nhóm công nghệ đang kể một câu chuyện hai mặt: vừa là động lực xuất khẩu, vừa là “túi chi” lớn nhất của nhập siêu Việt Nam. Ở chiều xuất khẩu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 110,66 tỷ USD, trong khi máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng đóng góp 50,7 tỷ USD, đưa công nghiệp chế biến, chế tạo trở thành trụ cột của tăng trưởng ngoại thương. Đây là tín hiệu tích cực cho tiến trình công nghiệp hóa và hội nhập chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nhưng ở chiều nhập khẩu, cùng nhóm hàng này lại phình to với 174,92 tỷ USD cho máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, và 50,6 tỷ USD cho máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng. Điều này cho thấy phần lớn giá trị xuất khẩu vẫn dựa vào linh kiện và công nghệ nhập khẩu, biên độ giá trị gia tăng nội địa còn mỏng. Khi nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại âm là hệ quả tất yếu, và nền kinh tế bị khóa trong mô hình gia công, lắp ráp với mức độ phụ thuộc cao vào nguồn cung bên ngoài.
Năng lượng, nguyên liệu đầu vào và các ngành thâm dụng lao động: Thâm hụt kép
Ngoài công nghệ, nhập siêu Việt Nam còn bị kéo sâu bởi các nhóm hàng năng lượng và nguyên liệu đầu vào. Sắt thép, vải các loại, xăng dầu, dầu thô và than đá đều nằm trong top nhập khẩu, tạo nên “chi phí cơ bản” cho cả nền kinh tế. Nhập khẩu vải tăng mạnh, trong khi xuất khẩu dệt may lại giảm, cho thấy chuỗi sản xuất hàng tiêu dùng thâm dụng lao động đang gặp khó về đơn hàng, nhưng vẫn phải gánh lượng nguyên liệu đã nhập. Điều này không chỉ đẩy tồn kho mà còn bào mòn lợi nhuận doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn.
Ở nhóm năng lượng, nhập khẩu dầu thô tăng mạnh trong bối cảnh nhập khẩu than đá và xăng dầu có xu hướng giảm, báo hiệu cấu trúc nhập khẩu năng lượng đang điều chỉnh nhưng chưa đủ để giảm áp lực nhập siêu. Sự lệch pha giữa nhập và xuất thể hiện rõ: nhập khẩu điện thoại và linh kiện tăng, trong khi xuất khẩu cùng nhóm lại giảm; nhập vải tăng, xuất dệt may giảm. Cán cân thương mại âm vì thế không chỉ là câu chuyện về nhu cầu đầu tư hay sản xuất tăng, mà còn là dấu hiệu của mất cân đối trong kế hoạch sản xuất và dự báo thị trường quốc tế.
Vai trò khu vực FDI và câu hỏi về giá trị gia tăng nội địa
Khu vực doanh nghiệp FDI tiếp tục chi phối bức tranh ngoại thương khi đóng góp tới 634 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu, trong đó xuất khẩu 321,4 tỷ USD, nhập khẩu 312,69 tỷ USD và ghi nhận xuất siêu 8,74 tỷ USD. Đây là minh chứng rằng mô hình sản xuất dựa trên nền tảng công nghệ, quản trị và chuỗi cung ứng toàn cầu có thể tạo ra dư thừa thương mại. Tuy nhiên, xuất siêu của FDI không đồng nghĩa với một cán cân thương mại lành mạnh nếu phần lớn lợi nhuận được chuyển ra bên ngoài và liên kết với doanh nghiệp trong nước còn yếu.
Trong khi FDI xuất siêu, khu vực doanh nghiệp trong nước nhiều khả năng đang gánh phần lớn thâm hụt thương mại. Các ngành thâm dụng lao động, vốn, và nguyên liệu nhập khẩu như dệt may, da giày, một số sản phẩm công nghiệp và nông sản chế biến vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn đầu vào ngoại. Điều này đặt ra câu hỏi: chúng ta đang xây được bao nhiêu giá trị gia tăng nội địa từ làn sóng xuất nhập khẩu tăng, và bao nhiêu trong số đó chỉ là “bề nổi” của một mô hình phụ thuộc vào nhập khẩu linh kiện, nguyên liệu, năng lượng và công nghệ từ nước ngoài.
Thâm hụt thương mại và con đường điều chỉnh cấu trúc tăng trưởng
Cán cân thương mại âm 23,5 tỷ USD trong bối cảnh tổng kim ngạch có thể tiến tới 1.200 tỷ USD vào cuối năm là lời nhắc rằng quy mô không thể thay thế chất lượng. Xuất nhập khẩu tăng là điều đáng mừng, nhưng thâm hụt thương mại kéo dài sẽ bào mòn dự trữ ngoại hối, tăng rủi ro tỷ giá và khiến nền kinh tế dễ tổn thương trước các cú sốc bên ngoài. Điều quan trọng không phải là ép nhập khẩu giảm bằng mệnh lệnh hành chính, mà là tái cấu trúc lại cách nền kinh tế dùng nguồn nhập khẩu để tạo ra giá trị xuất khẩu cao hơn.
Muốn thu hẹp nhập siêu Việt Nam, cần tập trung vào ba mũi: tăng nội địa hóa linh kiện và nguyên liệu trong các ngành công nghệ cao; phát triển công nghiệp hỗ trợ cho dệt may, da giày, chế biến nông sản để giảm nhập khẩu vải, phụ liệu; và sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, đa dạng hóa nguồn cung. Nếu không gắn nhập khẩu với chiến lược nâng cấp công nghiệp và chuỗi cung ứng trong nước, thâm hụt thương mại sẽ tiếp tục phình ra, và thành tích xuất nhập khẩu tăng chỉ là lớp sơn bóng trên một cấu trúc tăng trưởng còn nhiều điểm yếu.






