Nghịch lý cung vượt cầu: thiếu sách giáo khoa TP.HCM bắt nguồn từ đâu?
Tình trạng thiếu sách giáo khoa TP.HCM là nghịch lý khi tổng số sách được cung cấp đã vượt nhu cầu đăng ký, nhưng học sinh ở nhiều trường vẫn chưa có đủ sách để học, khiến phụ huynh phải xếp hàng mua thêm và ngành giáo dục buộc phải triển khai các giải pháp tạm thời để bảo đảm quyền học tập và tiến độ chương trình cho mọi học sinh. Trọng tâm của câu chuyện không nằm ở việc in thiếu sách mà ở khâu dự báo và phân phối lệch với nhu cầu thực tế. Từ ngày 4.3, Sở GD&ĐT đã tổng hợp nhu cầu và gửi đến nhà xuất bản giáo dục thông qua một công ty đối tác. Đến ngày 8.9, hơn 26,93 triệu bản sách được cung cấp, đạt 107% nhu cầu đăng ký. Thế nhưng, con số đẹp trên giấy lại không phản ánh đúng tình hình ở lớp học: có phụ huynh mua hai bộ sách, có trường dự báo thấp, có nơi kho sách thư viện dồi dào, nơi khác thiếu trầm trọng. Ở góc độ quản lý, đây là lời cảnh báo rằng chỉ số phần trăm cung cấp sách giáo dục không đủ nói lên chất lượng phục vụ. Khi phụ huynh vẫn “tay xách nách mang” xếp hàng mua sách sau khi năm học đã bắt đầu, thì rõ ràng bài toán dữ liệu và điều phối vẫn chưa được giải đúng. Câu hỏi đặt ra: vì sao các bên liên quan vẫn chấp nhận quản lý một hệ thống phân phối còn ngẫu hứng, để rồi mỗi mùa khai giảng lại lặp lại cùng một chiếc vòng luẩn quẩn thiếu – thừa – thiếu?

Vì sao cung 107% mà học sinh vẫn thiếu sách?
Không khó để nhận ra rằng nguyên nhân chính của thiếu sách giáo khoa TP.HCM nằm ở chênh lệch giữa “nhu cầu đăng ký” và “nhu cầu thực tế” tại từng trường. Con số hơn 26,93 triệu bản sách bao gồm cả sách cho thư viện, sách được mượn, sách mua hộ và các bộ sách không đi thẳng vào tay học sinh. Khi phụ huynh mua hai bộ cho một học sinh hoặc cho anh chị em ở tỉnh khác, nguồn sách vốn được tính vào tỷ lệ cung ứng lại bị hút khỏi hệ thống phân phối tại chỗ. Theo dữ liệu được Sở GD&ĐT công bố, trong danh sách những trường chưa thống kê đặt sách, phần lớn thực tế đã đặt hoặc có phương án bảo đảm sách cho học sinh; một số đơn vị đã sáp nhập, tổ chức lại nên không còn hoạt động độc lập; một số trường không đặt sách vì phụ huynh chủ động mua bên ngoài. Tuy vậy, vẫn có trường nhận sách nhưng thiếu một vài đầu sách do lượng cung chưa đủ, hoặc vì dự báo sai số lượng học sinh nhập học. Câu chuyện này cho thấy cơ chế dự báo dựa trên số liệu đầu năm không còn phù hợp với bối cảnh biến động, đặc biệt khi phụ huynh có xu hướng tự mua hoặc tích trữ sách. Nếu chỉ dựa vào “đăng ký một lần” mà thiếu cập nhật liên tục, ngành cung cấp sách giáo dục khó tránh khỏi tình trạng nơi thừa, nơi thiếu. Nghịch lý cung vượt cầu vì thế không phải là bí ẩn, mà là hệ quả của một chuỗi quyết định quản lý chưa linh hoạt.

Giải pháp tạm thời: e-book miễn phí và mượn sách thư viện trường
Trước thực tế nhiều học sinh thiếu một hoặc vài cuốn sách, Sở GD&ĐT không có lựa chọn nào khác ngoài triển khai các giải pháp “vá lỗi” để không gián đoạn việc học. Một trong những giải pháp nổi bật là khuyến nghị phụ huynh và học sinh có thiết bị, có internet sử dụng e-book miễn phí học sinh dưới dạng PDF tại địa chỉ taphuan.nxbgd.vn của nhà xuất bản giáo dục. Đây là bước đi cần thiết, vì nó giúp các em vẫn tiếp cận nội dung chương trình trong khi chờ sách in, đồng thời thúc đẩy thói quen dùng tài liệu số – điều mà lẽ ra ngành giáo dục phải làm từ sớm, không đợi đến lúc thiếu sách mới kích hoạt. Song song, Sở yêu cầu các trường mượn sách thư viện trường để bù đắp phần thiếu. Những bộ sách đã trang bị cho thư viện phải được “đưa ra khỏi kệ”, phục vụ trực tiếp học sinh thay vì nằm yên cho đủ chuẩn. Đồng thời, Sở động viên phụ huynh đã mua hai bộ sách cho con chia sẻ một bộ cho học sinh chưa có sách, và kêu gọi học sinh lớp trên tặng sách cũ cho lớp dưới dùng tạm. Những giải pháp này dựa nhiều vào tinh thần cộng đồng và lòng thiện chí – điểm mạnh của xã hội Việt Nam – nhưng cũng phơi bày hạn chế: khi quyền tiếp cận sách giáo khoa lại phụ thuộc vào sự may mắn ở trường có thư viện tốt hay phụ huynh sẵn lòng cho mượn, chứ không phải một hệ thống bảo đảm bình đẳng.

Trên lớp học: thầy cô gánh thêm phần việc của sách giáo khoa
Để các giải pháp tạm thời không biến thành khoảng trống kiến thức, giáo viên đang phải gánh thêm một phần việc vốn là nhiệm vụ của sách giáo khoa. Trong bối cảnh thiếu sách giáo dục ở một số lớp, Sở GD&ĐT yêu cầu giáo viên chuẩn bị bài giảng điện tử, phiếu học tập, bản tóm tắt kiến thức và các học liệu bổ trợ để bảo đảm học sinh vẫn nắm được nội dung bài. Học sinh không có sách có thể dựa vào tài liệu phát tay trên lớp, kết hợp e-book miễn phí học sinh khi về nhà. Ngành giáo dục cũng nhấn mạnh việc tăng cường dùng công nghệ thông tin để thay thế sách giấy trong giai đoạn thiếu sách, khuyến khích phụ huynh động viên con làm quen với tài liệu số và các nền tảng dạy học trực tuyến. Đây là cơ hội để đổi mới phương pháp dạy, nhưng cũng tạo áp lực không nhỏ cho cả thầy và trò: không phải gia đình nào cũng có thiết bị và đường truyền ổn định, không phải giáo viên nào cũng được tập huấn đầy đủ để thiết kế học liệu số hiệu quả. Khi những giải pháp này chỉ được kích hoạt trong trạng thái “chữa cháy”, nguy cơ chúng trở thành gánh nặng tạm thời hơn là một bước chuyển bền vững là điều khó tránh.
Từ giải pháp chữa cháy đến cải cách lâu dài
Sở GD&ĐT cho biết 100% trường học đã rà soát nhu cầu lần hai, đăng ký mua bổ sung và hoàn tất thủ tục đặt hàng; sách đang được vận chuyển trực tiếp đến từng trường, sau đó trường sẽ thông báo thời gian và hình thức nhận sách cho phụ huynh, học sinh. Về ngắn hạn, khi sách in đến nơi, các giải pháp mượn sách thư viện trường, dùng sách cũ, e-book miễn phí học sinh sẽ dần được rút lại. Nhưng nếu mọi bên chỉ thở phào rồi chờ đến mùa khai giảng tiếp theo để lặp lại quy trình, thì bài học quản lý sẽ bị bỏ lỡ. Sự cố cung vượt cầu nhưng vẫn thiếu sách cho thấy hệ thống dự báo và phân phối sách giáo dục đang vận hành theo kiểu “ấn định kế hoạch rồi trao đổi giấy tờ”, trong khi hành vi thực tế của phụ huynh và nhà trường biến động liên tục. Muốn tránh vòng luẩn quẩn, Sở cần chuyển từ cách làm chiến dịch sang mô hình dữ liệu cập nhật theo thời gian, kết nối trực tiếp giữa nhà xuất bản và trường học, có cơ chế điều chỉnh nhanh khi phát sinh thiếu – thừa cục bộ. Thư viện phải thực sự là “trạm trung chuyển” sách giáo khoa, không chỉ là nơi lưu trữ. E-book cần được coi là một phần chính thức của hệ sinh thái học liệu, chứ không chỉ là giải pháp phòng khi khủng hoảng. Khi quyền tiếp cận sách trở nên bình đẳng và linh hoạt, việc thiếu sách giáo khoa TP.HCM mới có thể hết là tin nóng mỗi dịp năm học mới. Còn nếu chỉ chấp nhận giải pháp chữa cháy, câu hỏi “Cung cấp đạt 107% mà học sinh vẫn thiếu sách?” sẽ tiếp tục là lời nhắc nhở về một hệ thống quản lý chưa kịp thay đổi theo nhu cầu của chính người học.






