Vị trí số 7: khoản đầu tư lớn, thời gian triển khai dài
Khu thương mại tự do Đà Nẵng là mạng lưới các khu chức năng không liền kề, được quy hoạch để kết hợp sản xuất, logistics, thương mại và công nghệ trong một không gian phát triển chung. Thành phố vừa chấp thuận chủ trương đầu tư hạ tầng khu chức năng tại vị trí số 7 bằng Quyết định 4785/QĐ-UBND. Dự án ở xã Hòa Vang có diện tích khoảng 276 ha, tổng vốn 3.525 tỷ đồng và thời hạn hoạt động 70 năm. Đây là bước cụ thể hóa quy hoạch 1.881 ha của toàn khu, được thành lập năm 2025. Tuy nhiên, quy mô vốn và đất mới tạo tiền đề, chưa bảo đảm dự án sớm tạo ra hoạt động kinh tế. Thủ tục đầu tư dự kiến kéo dài từ quý IV/2026 đến quý IV/2027; bồi thường, giải phóng mặt bằng có thể tiếp diễn đến quý III/2029.
Theo kế hoạch, xây dựng hạ tầng bắt đầu từ quý IV/2027, hướng tới khai thác trong quý I/2032; xúc tiến thu hút đầu tư dự kiến khởi động từ quý IV/2028. Khoảng thời gian này đòi hỏi thành phố chuẩn bị mặt bằng và thủ tục song song, thay vì chờ xây xong mới tìm doanh nghiệp. Định hướng sản xuất, logistics, công nghệ số và công nghệ thông tin phù hợp với mục tiêu nâng giá trị hoạt động trong khu. Nhưng để biến định hướng thành sức cạnh tranh, hạ tầng phải sẵn sàng đúng tiến độ và đủ kết nối với mạng lưới giao thông, cảng biển. Nếu các mốc bị trễ, lợi thế quy hoạch sẽ khó chuyển thành lợi thế thực tế.

Nhiều dự án cùng triển khai tạo thành một mạng lưới
Vị trí số 7 không phải dự án đơn lẻ: Đà Nẵng đang triển khai các khu chức năng khác với định hướng và tiến độ riêng. Đáng chú ý, EAGLE FTZ tại vị trí số 2 được khởi động ngày 27/8/2026, trên diện tích 75 ha với tổng vốn hơn 1.568 tỷ đồng. Dự án nằm ở cửa ngõ phía Bắc, có kết nối với cảng Liên Chiểu, đường bộ, đường sắt và sân bay quốc tế. Trong khi đó, các nhà đầu tư tại vị trí số 2 và số 5 đã khởi công trong năm 2025. Sự song hành này có ý nghĩa lớn hơn việc cộng thêm diện tích: thành phố có cơ hội tổ chức liên kết giữa sản xuất, logistics và dịch vụ thay vì để từng khu hoạt động tách biệt.
EAGLE FTZ hướng tới logistics, sản xuất công nghệ cao, thiết bị bán dẫn, điện tử và công nghiệp hỗ trợ. Đây là cách tiếp cận có triển vọng: doanh nghiệp có thể kết nối nhiều công đoạn trong chuỗi giá trị tại cùng một địa điểm. Song, nhiều dự án cùng khởi động cũng làm tăng yêu cầu phối hợp về giao thông, mặt bằng, dịch vụ và tiến độ. Đầu tư hạ tầng logistics chỉ tạo lợi thế khi các khu chức năng bổ trợ lẫn nhau, hàng hóa lưu chuyển thuận tiện và nhà đầu tư có thể dự đoán rõ quy trình. Vì vậy, Đà Nẵng nên đo thành công bằng chất lượng liên kết và dòng vốn thu hút được, không chỉ bằng số dự án hay diện tích đã quy hoạch.

Hạ tầng là điều kiện cần; hiệu quả thực thi mới tạo sức cạnh tranh
Tham vọng của khu thương mại tự do sẽ được kiểm chứng bằng khả năng đưa hạ tầng vào sử dụng và biến kết nối thành hoạt động kinh doanh. Ban Quản lý Khu công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng kỳ vọng khu này đóng góp 17,9% GRDP thành phố và tạo 127.000 việc làm vào năm 2040. Đây là mục tiêu dài hạn, không phải kết quả đã đạt được. Với người dân, lợi ích chỉ trở nên hữu hình khi việc làm được tạo ra, doanh nghiệp địa phương có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng và hoạt động sản xuất đem lại giá trị cho nền kinh tế đô thị. Bởi vậy, phát triển kinh tế thành phố không nên chỉ được đánh giá qua vốn đăng ký, mà còn qua năng lực vận hành và mức độ lan tỏa.
Hạ tầng đồng bộ là điều kiện cần, nhưng sức hút đầu tư còn phụ thuộc vào giải phóng mặt bằng, thủ tục minh bạch, dịch vụ hỗ trợ và kết nối liên vùng. Thành phố cũng cần chọn dự án có năng lực tài chính, công nghệ và giá trị gia tăng, thay vì chạy theo mục tiêu lấp đầy. Đây là lựa chọn đúng: ưu đãi hay vị trí thuận lợi khó bù đắp được quy trình chậm và kết nối thiếu đồng bộ. Chiến lược của Đà Nẵng vì thế nên đặt trọng tâm vào triển khai đúng hạn, phối hợp giữa các khu chức năng và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia. Khoản đầu tư 3.525 tỷ đồng tại vị trí số 7 là một bước tiến đáng kể, nhưng năng lực thực thi mới quyết định khu thương mại tự do có trở thành động lực kinh tế dài hạn hay không.







